Chuyên đề thực tập Nguyễn Thanh Hải – KTPT 46
CEPT từ 1- 1- 1998 và kết thúc vào ngày 1- 1- 2008. Campuchia bắt đầu thực
hiện CEPT từ 1-1- 2000 và kết thúc vào ngày 1- 1- 2010. Việc thực hiện
CEPT đã làm cho xuất khẩu nội khu vực ASEAN tăng từ 43 tỷ USD năm
1993 lên 84 tỷ năm 2001, tăng hơn 90% trong vòng 8 năm. Thị trường
ASEAN đã trở nên ngày càng quan trọng hơn đối với các nước thành viên
ASEAN. Do vậy, AFTA sẽ tiếp tục thúc đẩy các hoạt động thương mại khu
vực.
Khi thực hiện hiệp định CEPT các hàng rào phi thuế quan như hạn chế
số lượng, hạn ngạch giá trị xuất nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu có tác dụng
hạn chế định lượng… cũng bị loại bỏ trong vòng 5 năm sau khi một sản phẩm
được hưởng ưu đãi thuế quan.
Việc xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ thúc đẩy
thương mại và cải thiện phúc lợi của các nước tham gia, tạo ra môi trường
cạnh tranh hơn, nhưng nó cũng làm tăng năng suất lao động, đa dạng hoá các
sản phẩm và giảm giá hàng hoá. Các hoạt động thương mại ngày càng tăng
cũng thúc đẩy các hoạt động kinh tế các nước này, việc làm được tạo ra và
các nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh hơn.
* Về chính trị.
Về chính trị nó có tác dụng củng cố tinh thần đoàn kết, giúp đỡ các
nước vừa và nhỏ có tiếng nói mạnh mẽ và vai trò trong giải quyết vấn đề quốc
tế, xã hội của các nước thành viên. Phần lớn các nước trong khối ASEAN
thực hiện theo chế độ đa Đảng. Nhưng nhìn chung chính trị trong khu vực
SAEAN là khá ổn định, rất thuận lợi cho hoạt động trao đổi buôn bán với các
nước với nhau và với thế giới.
Tóm lại, thị trường ASEAN có đặc điểm tương đồng về văn hoá và gần
gũi nhau về địa lý, chính trị trong khối tương đối ổn định.ASEAN là một thị
trường đầy tiềm năng với trên 500 triệu dân và yêu cầu về chất lượng hàng hoá
5
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thanh Hải – KTPT 46
không phải là cao. Hầu hết các nước ASEAN có xuất phát điểm là nền văn minh
nông nghiệp lúa nước, đi lên từ nông nghiệp và lấy nông nghiệp là điều kiện
phát triển kinh tế. Do vậy, sự cạnh tranh về các sản phẩm đồng loại là rất khốc
liệt, bên cạnh đó có sự tự do hoá thương mại theo cả hướng đa phương và song
phương nên sự cạnh tranh trong một thị trường như vậy càng mãnh liệt hơn.
1.2. Nhu cầu của thị trường ASEAN về nông sản Việt Nam.
Với một thị trường hơn 500 triệu dân, ngoài các nhu cầu về mặc, ở, đi
lại… thì nhu cầu về ăn uống là rất lớn.Và so với các nước Singapo, Thái Lan,
Philippin, Malaysia, Inđônêsia thì Việt Nam có nền kinh tế kém phát triển
hơn rất nhiều.Do đó, ngoài nhu cầu nhập khẩu nông sản Việt Nam về bổ sung
cho nhu cầu ăn uống. Các nước Singapo, Thái Lan, Philippin, Malaysia,
Inđônêsia còn có nhu cầu nhập khẩu nông sản Việt Nam về chế biến và tái
xuất. Cùng sự phát triển mạnh mẽ, các nước ASEAN đang được coi là khu
vực hấp dẫn, sôi động nhất thế giới. Tăng trưởng buôn bán giữa Việt Nam và
các nước ASEAN đạt 20 – 25%/năm. Hàng năm, ASEAN nhập khẩu một
lượng khá lớn nông sản Việt Nam, kim ngạch trung bình mỗi năm đạt khoảng
3.678 triệu USD. Hầu hết các nước ASEAN đều chú trọng đến phát triển
nông nghiệp. Các nước Inđônêxia, Thái Lan, Malaysia, Philipin là các nước
có nền nông nghiệp khá phát triển thế mà hàng năm Inđônêxia phải nhập khẩu
về từ 1,8 – 2 triệu tấn gạo của Việt Nam. Philipin, Malaysia, Thái Lan cũng
nhập khẩu một lượng khá lớn nông sản Việt Nam. Trung bình tỷ trọng thị
trường ASEAN trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam
chiếm khoảng 18%, với các mặt hàng chủ yếu như : gạo, hạt điều, lạc nhân,
cao su, long nhãn, hành, sắn, tỏi… Trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản
của Việt Nam sang ASEAN thì có tới 60 – 70% được xuất sang Singapore.
Đây là thị trường tái xuất điển hình trong ASEAN. Năm 2007, Việt Nam có
21 thị trường xuất khẩu nông sản (có kim ngạch xuất khẩu nông sản khoảng
6
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thanh Hải – KTPT 46
100 triệu USD) thì có 3 nước là Singapore đạt 886,7 triệu USD, Philipin đạt
477 triệu USD, Malaysia đạt 413,5 triệu USD. Ngoài ra, còn Inđônêxia và
Campuchia cũng là thị trường nhập khẩu nông sản lớn của Việt Nam.
Tóm lại, nhu cầu của thị trường ASEAN về hàng nông sản Việt Nam là
rất lớn. Ngoài nhu cầu về hàng nông sản phục vụ cho tiêu dùng hàng ngày,
các nước ASEAN còn nhập khẩu nông sản của Việt Nam cho sản xuất chế
biến trong nước rồi tái xuất sang nước khác.
2. Đặc trưng của nông sản Việt Nam
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có 2 mùa nắng mưa rõ rệt.
Việt Nam được coi là nước có đIều kiện khí hậu thuận lợi cho việc trồng các
cây nông sản. Do điều kiện khí hậu 2 mùa rõ rệt nên đã tạo nên ngành nông
nghiệp Việt Nam 2 mùa thu hoạch: vụ mùa và vụ chiêm. Do nông sản có tính
thời vụ vì vậy quá trình sản xuất, buôn bán nông sản Việt Nam cũng mang
tính thời vụ. Từ đó tạo nên sự cung theo mùa có nghĩa là khi chính vụ thì
hàng nông sản dồi dào, chủng loại đa dạng, chất lượng tốt, giá bán rẻ (cung
>cầu) nhưng khi trái vụ nông sản lại trở nên khan hiếm, số lượng ít, chất
lượng không cao, giá lại cao (cung<cầu).
Nông sản Việt Nam khi thu hoạch thường có chất lượng cao nhưng do
không được bảo quản dự trữ và chế biến đúng quy cách, kỹ thuật nên khi xuất
khẩu thì thường xuất khẩu hàng thô hoặc qua sơ chế hay có được chế biến thì
chất lượng sản phẩm không cao, không đạt các tiêu chuẩn do vậy thường bán
với giá rẻ.
Hàng nông sản phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, khí hậu, địa lý… Năm
nào có mưa thuận gió hoà thì cây cối phát triển, năng suất cao, hàng nông sản
được bày bán tràn ngập trên thị trường. Năm nào thời tiết khắc nghiệt, bão, lũ
lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên nông sản mất mùa lúc đó thì hàng nông sản
khan hiếm, chất lượng lại không cao, do không có hàng bán nên cung < cầu,
7
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thanh Hải – KTPT 46
lúc này giá bán lạI rất cao. Hàng nông sản chủ yếu là phục vụ nhu cầu ăn
uống của người tiêu dùng cuối cùng vì thế chất lượng của nó tác động trực
tiếp tới tâm lý, sức khoẻ người tiêu dùng trong khi đó khâu bảo quản, dự trữ
chế biến hàng nông sản của nước ta vừa thiếu lại vừa yếu nên hàng nông sản
của Việt Nam khi bán trên thị trường thì giá thường thấp hơn các nước trong
khu vực và thế giới.
Với điều kiện khí hậu nước ta rất phù hợp với nhiều loại cây trồng do
đó chủng loại hàng nông sản của nước ta rất đa dạng, phong phú, một số loại
cây trồng cho năng suất rất cao tạo ra chất lượng hàng hoá cũng phong phú và
đa dạng. Nước ta là nước nông nghiệp với hơn 70% dân số là làm nông
nghiệp do vậy cây nông sản được trồng ở khắp mọi nơi trên đất nước nhưng
do khác nhau về tự nhiên, địa lý mỗi vùng thích hợp cho một hoặc một vài
loại cây trồng khác nhau, mỗi vùng sử dụng một phương thức sản xuất khác
nhau và trồng những giống cây khác nhau. Do vậy tạo nên những loại hàng
hoá khác nhau và chất lượng hàng hoá khác nhau.
Tóm lại, nông sản Việt Nam rất đa dạng, phong phú về chủng loại, chất
lượng cao được rất nhiều nước trên thế giới và khu vực ưa chuộng. Nhưng do
nền kinh tế của nước ta chưa phát triển nên khâu bảo quản, dự trữ rất yếu kém
và ngành chế biến chưa được đầu tư đúng mức. Do đó hầu hết hàng nông sản
Việt Nam xuất khẩu sang thị trường khu vực và thế giới chủ yếu là hàng thô
và thường bị ép giá nên giá trị xuất khẩu không cao.
Do vậy, vấn đề bảo quản, dự trữ, chế biến là rất quan trọng, nó ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Với đặc tính
khó bảo quản, dễ bị ẩm mốc, biến chất của hàng nông sản, vì vậy trong quá
trình tổ chức xuất khẩu nông sản các doanh nghiệp phải rất quan tâm đến đIều
khoản giao hàng, đIều khoản chất lượng… để tổ chức thực hiện một cách
nhanh chóng song vẫn đảm bảo được các đIều khoản đã ký kết.
8
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thanh Hải – KTPT 46
3. Tình hình xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường ASEAN
Trong hơn 10 năm thực hiện chiến lược ổn định, phát triển kinh tế xã
hội, Nhà nước ta đã có sự đóng góp quan trọng vào thắng lợi chung của sự
nghiệp đổi mới. Trong đó đặc biệt phải kể đến thành tựu nổi bật về xuất khẩu
nông sản. ASEAN là một trong những thị trường đóng góp một phần đáng kể
vào tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu
nông sản sang thị trường ASEAN tăng nhanh, đạt tốc độ bình quân 16%/năm.
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nông sản sang thị trường ASEAN chiếm tỷ
trọng trung bình 93%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường
ASEAN của Việt Nam. Khối lượng xuất khẩu một số mặt hàng nông sản sang
ASEAN tăng lên nhanh chóng trở thành những mặt hàng chiến lược có sức
cạnh tranh cao của Việt Nam. Sản phẩm nông sản của Việt Nam có mặt ở hầu
hết thị trường các nước ASEAN. Một số sản phẩm chiếm thị phần lớn trong
thị trường ASEAN này là:
Cà phê: Chiếm 30% thị phần trong ASEAN và đứng thứ nhất trong khu
vực về sản lượng với nhiều chủng loại khác nhau nhưng chủ yếu là cà phê
chưa chế biến. Năm 2002 – 2003 cà phê có tốc độ phát triển xuất khẩu cao, là
một trong số các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị
trường các nước ASEAN. Năm 2005 xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị
trường ASEAN gấp 7,6 lần so với năm 2003, đạt 130 nghìn tấn, đạt 89 triệu
USD. Sang đến năm 2006, đây là năm ngành cà phê Việt Nam gặp rất nhiều
khó khăn như hạn hán kéo dài ở khu vực Tây Nguyên là nơi trồng nhiều cà
phê nhất của Việt Nam, sản lượng cà phê bị giảm bên cạnh đó giá cà phê còn
xuống thấp. Do đó, kim ngạch cà phê xuất khẩu sang thị trường ASEAN giảm
22,4% và chỉ đạt 69 triệu USD. Việt Nam sản xuất cà phê chủ yếu là xuất
khẩu tới 95% sản lượng. Cà phê Việt Nam hiện nay xuất khẩu sang thị trường
ASEAN chủ yếu là bằng phương thức xuất khẩu trực tiếp, chiếm tới 95%. Và
9
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thanh Hải – KTPT 46
Singapore là thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của nước ta trong khối
ASEAN. Việt Nam xuất khẩu cà phê sang thị trường ASEAN có 2 loại cà phê
hạt và cà phê rang, xay, hoà tan… Cà phê hạt chủ yếu chế biến bằng phương
pháp khô với thiết bị thủ công lạc hậu vì vậy chất lượng cà phê hạt rất thấp,
có khoảng 2% sản lượng cà phê xuất khẩu sang thị trường ASEAN đạt loại 1
(R
1
) còn lại là loại 2 (R
2
). Do đó, hiệu quả xuất khẩu cà phê của Việt Nam
sang thị trường ASEAN không cao. Đến cuối năm 2006 giá cà phê xuất khẩu
trên thị trường thế giới nói chung có những thay đổi thuận lợi cho các doanh
nghiệp thực hiện xuất khẩu cà phê, sản lượng cà phê tăng mạnh kéo theo giá
cà phê lên cao. Kim ngạch xuất khẩu cà phê sang thị trường ASEAN của Việt
Nam đạt 414 triệu USD, cao nhất từ trước đến nay và Singapore vẫn là thị
trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của nước ta trong ASEAN. Đến năm 2007,
lượng xuất khẩu cà phê giảm chủ yếu do nguồn cung khan hiếm và tồn kho
giảm tuy nhiên nhờ giá thị trường thế giới tăng nên khối lượng xuất khẩu
giảm nhưng giá trị xuất khẩu vẫn tăng. Chính vì vậy, chúng ta phải chú ý đến
khâu bảo quản dự trữ, đó là một khâu cực kỳ quan trọng nó giúp ta tận dụng
được cơ hội của thị trường mà không nằm trong tình trạng khi có hàng thì giá
rẻ, khi hàng khan hiếm thì giá cao dẫn đến hiệu quả kinh doanh không cao.
Cao su: ASEAN là thị trường xuất khẩu cao su chủ yếu của Việt Nam.
ASEAN là một trong 3 thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam,
chiếm trên 38%. Xuất khẩu cao su của Việt Nam sang thị trường ASEAN chủ
yếu vẫn là xuất khẩu ở dạng thô hoặc mới qua sơ chế. Trong thị trường
ASEAN thì cao su Việt Nam xuất khẩu chủ yếu là sang Singapore. Năm
2005, Việt Nam xuất khẩu trên 80 nghìn tấn cao su sang thị trường ASEAN,
giá trị kim ngạch thu được trên 30 triệu USD. Đến năm 2006 thì cao su Việt
Nam đã xuất khẩu trên 120 nghìn tấn, giá trị kim ngạch đạt trên 40 triệu USD,
sau có một năm mà giá trị kim ngạch tăng lên 10 triệu USD đó là thành công
10
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thanh Hải – KTPT 46
lớn của ngành cao su Việt Nam ở thị trường ASEAN này. Đặc biệt, năm đó
do các nền kinh tế lớn của thế giới đang phục hồi nhanh chóng và tiêu thụ
mạnh mặt hàng này, thêm vào đó thời tiết năm đó không thuận lợi đã góp
phần đáng kể làm giảm lượng cung cao su trên thị trường. Vì thế giá cao su
bắt đầu tăng lên và đạt mức trên 1.000 USD/tấn tạo điều kiện cho Việt Nam
tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu cao su. Trong năm đó, thị trường Singapore
nhập khẩu cao su của Việt Nam tăng 4,4 lần, Malaysia tăng 3,9 lần. Sang năm
2007 giá xuất khẩu cao su tiếp tục thuận lợi, trị giá tăng mạnh mặc dù khối
lượng xuất khẩu không bằng năm 2002 do hạn chế nguồn hàng, thời tiết làm
giảm tiến độ lấy mủ cao su ở Thái Lan và Inđônêxia. Nhìn chung nhu cầu về
cao su tiếp tục tăng, do vậy khối lượng cũng như giá trị kim ngạch xuất khẩu
cao su của Việt Nam sang thị trường ASEAN sẽ còn tăng nữa trong những
năm tới.
Hạt tiêu: Hạt tiêu của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường ASEAN
cũng khá lớn, do đặc điểm của hạt tiêu Việt Nam có mùi vị đặc trưng mà rất
nhiều nước không có được. Việt Nam là nước xuất khẩu hạt tiêu đứng thứ 6
trên thế giới. Chất lượng hạt tiêu Việt Nam thì thuộc loại tốt. Tuy nhiên, hạt
tiêu xuất khẩu của Việt Nam nói chung và sang thị trường ASEAN nói riêng
chủ yếu là hạt tiêu thô hoặc qua sơ chế chưa phải là sản phẩm chế biến thành
gia vị. Kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 2002 – 2003 sang thị trường ASEAN là
trên 685 triệu USD. Năm 2004 là 11 nghìn tấn với trị giá 44 triệu USD. Năm
2005 là 13 nghìn tấn trị giá đạt 54 triệu USD. Như vậy, sản lượng tăng 18,2%
trong khi trị giá tăng 22,7%. Sang đến năm 2005 là khối lượng hạt tiêu xuất
khẩu sang ASEAN tăng nhanh nhưng giá xuất khẩu lại giảm. Và năm 2007
giá xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam sang thị trường ASEAN tăng nhẹ, do đó kim
ngạch xuất khẩu đạt 58 triệu USD. Do vậy để nâng cao kim ngạch và hiệu quả
xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang thị trường ASEAN chúng ta cần phải có
11
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thanh Hải – KTPT 46
kế hoạch phát triển vùng sản xuất, đầu tư mạnh vào công nghệ chế biến hạt
tiêu để biến hạt tiêu của ta thành gia vị đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho
ngành hạt tiêu Việt Nam.
Ngoài ra, còn rất nhiều nông sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị
trường ASEAN như: gạo, lạc nhân, hành, long nhãn, quế hương… Chủng loại
và chất lượng rất đa dạng và phong phú chiếm được thị phần người tiêu dùng
trên thị trường ASEAN cũng như các nhà chế biến trên thị trường này. Giá trị
kim ngạch xuất khẩu đối với các mặt hàng này không lớn lắm nhưng nó cũng
góp một phần đáng kể vào tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam
sang thị trường ASEAN.
Tóm lại, mặc dù nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường
ASEAN chủ yếu là dạng thô hoặc mới qua sơ chế, bao bì, mẫu mã thiếu sức
hấp dẫn trên thị trường nên giá không cao. Hàng Việt Nam tham gia vào thị
trường phải chấp nhận tuân theo giá cả thị trường thế giới. Nhưng nông sản
Việt Nam xuất khẩu sang thị trường ASEAN đã có một thành công lớn, khối
lượng và kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên. Để nâng cao hơn nữa
hiệu quả xuất khẩu chúng ta cần phải chuyển dịch cơ cấu cây trồng, áp dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ vào khâu trồng trọt cũng như khâu chế
biến để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Đầu tư mạnh
vào công tác xúc tiến thương mại, thu thập thông tin nghiên cứu thị trường để
luôn đáp ứng đầy đủ các đòi hỏi của thị trường về chất lượng, tiêu chuẩn vệ
sinh, cạnh tranh được với các sản phẩm của các nước trong khu vực. Để làm
được điều đó chúng ta đã đưa ra một số định hướng phát triển nông sản như:
Với cà phê: Do cà phê là mặt hàng có sự biến động giá cả và khối
lượng rất thất thường. Giá cả và sản lượng phụ thuộc nhiều vào thời tiết gây
rất nhiều khó khăn về dự báo. Theo FAO dự báo năm 2008 sản lượng thế giới
khoảng 7,3 triệu tấn. Và năm 2010 có thể đạt 730 ngàn tấn và kim ngạch là
12
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thanh Hải – KTPT 46
830 triệu USD. Để đạt được điều đó chúng ta nên chú trọng vào phát triển cà
phê Arabia, đầu tư mạnh vào lĩnh vực chế biến cà phê rang, xay với cà phê
hoà tan.Tăng cường marketing và mở rông thị trường tiêu thụ, đặc biệt quan
tâm nghiên cứu và dự báo thị trường,giới thiệu sản phẩm,tiếp cận thị trường,
phát huy lợi thế cà phê Việt Nam. Năm 2003, chính phủ phê duyệt việc sử
dụng sàn giao dịch cà phê tại thành phố Buôn Mê Thuột tỉnh Đắc Lắc tạo điều
kiện cho cà phê phát triển. Thị trường xuất khẩu cà phê chính của Việt Nam
vẫn là ASEAN, EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản.
Với cao su: Chính phủ đã có nhiều phương án phát triển cao su, sự biến
động giá cả cao su cũng rất thất thường do nhu cầu không lớn và tăng chậm.
Nhưng cao su vẫn là nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nên chính phủ
đã có đầu tư thích đáng. Dự báo cao su xuất khẩu trong thời gian tới của Việt
Nam sẽ đạt từ 300 – 350 ngàn tấn/năm, đạt khoảng 400 triệu USD. Thị trường
chính là Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN, Mỹ, Đài Loan.
Về hạt tiêu: Hạt tiêu của ta rất được ưa chuộng trên thị trường thế giới
do xuất khẩu hạt tiêu của ta ở dạng thô nên trong thời gian tới ta tập trung vào
khâu chế biến để sao tự chủ, chiếm được thị phần người tiêu dùng và tiếp tục
mở rộng sản xuất, gia tăng sản lượng để đạt khoảng 200.000 tấn/năm, giá trị
tăng lên 250 – 270 triệu USD. Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Nhật Bản,
Trung Quốc, Singapore, Trung Đông, Mỹ.
Như vậy, định hướng phát triển chung của nông sản Viêt Nam là tập trung
lớn vào khâu chế biến bảo quản và bên cạnh đó tăng sản lượng hơn nữa để làm
tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu. Đưa sản phẩm nông sản Việt Nam thâm nhập
vào tất cả các thị trường trên thế giới đạt hiệu quả kinh doanh tốt nhất.
4. Lợi thế xuất khẩu nông sản Việt Nam sang các nước ASEAN
Việt Nam có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển các cây nông
sản. Đặc biệt là các vùng phía Nam có điều kiện khí hậu rất thuận lợi, nhiệt
13
Chuyên đề thực tập Nguyễn Thanh Hải – KTPT 46
độ trung bình vào khoảng 27,5 độ C thích hợp cho đIều kiện sống của các cây
như cà phê, tiêu, điều, lạc…
Người dân Việt Nam có truyền thống làm nông nghiệp, thông minh,
sáng tạo, nắm rõ đặc điểm của từng loại đất, từng loại cây trồng, tạo ra được
nhiều loại cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, chủng loại đa dạng
phong phú thích hợp với nhiều đối tượng khác nhau. Điều này tạo cho nông
sản xuất khẩu của Việt Nam có những ưu điểm hơn hẳn so với các nước khác.
Mặc dù nông sản Việt Nam có chất lượng tốt, chủng loại đa dạng,
phong phú nhưng giá bán nông sản của Việt Nam thường vẫn thấp hơn giá
bán nông sản cùng loại của các nước khác, thêm vào đó các doanh nghiệp
Việt Nam khi tham gia xuất khẩu luôn có tinh thần trách nhiệm cao, thực hiện
đúng quy định về chất lượng, chủng loại cũng như thời gian đã tạo ra được uy
tín cho bạn hàng.
Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, gần trung tâm trung chuyển hàng
hoá, gần hệ thống đường bộ và đường sắt xuyên Á và Việt Nam đã gia nhập
vào ASEAN, tham gia vào chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
(CEPT) nên đã được hưởng chế độ ưu đãi thuế quan khi hàng hoá của Việt
Nam xuất khẩu sang thị trường này. Đó là những lợi thế tạo cho hàng nông
sản Việt Nam luôn giữ vững được vị trí của mình trong thị trường ASEAN.
5. Các nhân tố tác động đến xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị
trường ASEAN
5.1. Các công cụ, chính sách của Nhà nước trong quản lý xuất khẩu
Hiện nay, trên thế giới, các nước sử dụng nhiều công cụ để thực hiện
chính sách thương mại quốc tế, trong đó công cụ quan trọng nhất là thuế đánh
vào hàng nhập khẩu. Hầu như tất cả các nước trong khối ASEAN đều áp dụng
thuế nhập khẩu đối với hàng nông sản, chỉ riêng có Singapore là không. Đây
là nhân tố phức tạp và thường gây bối rối cho các nhà kinh doanh do hệ thống
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét