Khoá luận tốt nghiệp Mai Quang
Hợp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tiến
hành hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải có một lượng vốn lưu động
nhất định như là tiền đề bắt buộc. Vốn lưu động có vai trò đặc biệt
quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh
cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
* Tính cấp thiết của Đề tài :
Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động trong điều kiện nền
kinh tế mở với xu thế quốc tế hoá ngày càng cao và sự kinh doanh trên
thị trường ngày càng mạnh mẽ. Do vậy, nhu cầu vốn lưu động cho
hoạt động kinh doanh, nhất là nhu cầu vốn dài hạn của các doanh
nghiệp cho sự đầu tư phát triển ngày càng lớn. Trong khi nhu cầu về
vốn lớn như vậy thì khả năng tạo lập và huy động vốn của doanh
nghiệp lại bị hạn chế. Vì thế, nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi các doanh
nghiệp phải sử dụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở
tôn trọng nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấp hành pháp luật.
* Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài :
Đối với các Doanh nghiệp , đặc biệt là các Doanh nghiệp
thuộc thành phần kinh tế Quốc Doanh trong nền kinh tế mới phải chủ
động hơn trong việc huy động và sử dụng vốn .Ngoài vốn ngân sách
nhà nuớc cấp còn phải huy động từ nhiều nguồn khác .Vì vậy việc
quản lý và sử dụng Vốn lưu động một cách hiệu quả là hết sức quan
trọng .Vì nó thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp.
Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
5
Khoá luận tốt nghiệp Mai Quang
Hợp
Vì vậy mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở phân tích
thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty, khẳng định
những mặt tích cực đã đạt được đồng thời tìm ra một số hạn chế cần
khắc phục và có biện pháp hoàn thiện.
* Phương pháp nghiên cứu :
Công ty vật tư kỹ thuật xi măng là một thành viên trong
Tổng công ty xi măng Việt Nam . Công ty được giao nhiệm vụ tổ
chức lưu thông tiêu thụ xi măng , giữ bình ổn giá cả thị trường trên
các địa bàn được phân công .Như vậy việc tiêu thụ Xi măng là công
việc chủ yếu , đẩy nhanh tốc độ hoàn thành vượt mức kế hoạch Tổng
Công Ty giao luôn là nhiệm vụ hàng đầu của công ty vật tư kỹ thuật
Xi măng.
Nhận thức được tầm quan trọng của vốn lưu động, Công ty đã
không ngừng đổi mới và hoàn thiện công tác tổ chức quản lý vốn lưu
động để sao cho việc sử dụng vốn đạt hiệu quả cao nhất.
Xuất phát từ vấn đề bức thiết đặt ra cho các doanh nghiệp hiện
nay là phải xác định và đáp ứng được nhu cầu vốn lưu động thường
xuyên, cần thiết, tối thiểu, phải biết được hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp mình ra sao, Các giải pháp cần thực hiện để nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp mình.
Sau thời gian thực tập tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng –
Tổng công ty Xi măng Việt Nam , Em đã chọn đề tài “Quản trị và
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật
Xi măng ”.
Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
6
Khoá luận tốt nghiệp Mai Quang
Hợp
* Kết cấu của Luận Văn :
Nội dung chính của luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1 - Những vấn đề lý luận chung của vốn lưu động
Chương 2 - Thực trạng quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty
Vật tư kỹ thuật Xi măng –Tổng công ty Xi măng Việt Nam
Chương 3 - Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản trị
vốn lưu động tại Công ty Vật tư kỹ thuật Xi Măng .
Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
7
Khoá luận tốt nghiệp Mai Quang
Hợp
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
VỐN LƯU ĐỘNG
1.1 – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG :
1.1.1- Khái niệm của vốn lưu động:
Vốn lưu động là giá trị những tài sản lưu động mà doanh
nghiệp đã đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh, đó là số vốn bằng
tiền ứng ra để mua sắm các tài sản lưu động sản xuất và các tài sản lưu
động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh
nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu
lao động các doanh nghiệp còn có các đối tượng lao động. Khác với
các tư liệu lao động, các đối tượng lao động (như nguyên, nhiên, vật
liệu, bán thành phẩm…) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và
không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được
chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.
Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện
vật được gọi là các tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị được gọi
là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận
động của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của
tài sản lưu động. Trong các doanh nghiệp người ta thường chia tài sản
lưu động thành hai loại: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động
lưu thông. Tài sản lưu động sản xuất bao gồm các loại nguyên, nhiên,
vật liệu; phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang đang
Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
8
Khoá luận tốt nghiệp Mai Quang
Hợp
trong quá trình dự trữ sản xuất, chế biến. Còn tài sản lưu động lưu
thông bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn
bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết
chuyển, chi phí trả trước Trong quá trình sản xuất kinh doanh các tài
sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn vận động,
thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh
doanh được tiến hành liên tục và thuận lợi.
Vốn lưu động được chuyển hoá qua nhiều hình thái khác
nhau, bắt đầu là tiền tệ sang hình thái vật tư, hàng hoá dự trữ. Khi vật
tư dự trữ được đưa vào sản xuất, chúng ta chế tạo thành các bán thành
phẩm. Sau khi sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ, vốn lưu động quay
về hình thái tiền tệ ban đầu của nó. Quá trình sản xuất kinh doanh diễn
ra liên tục, không ngừng, cho nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không
ngừng có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động.
Do có sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có
các bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong
sản xuất và lưu thông.
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của
quá trình tái sản xuất, là một bộ phận trực tiếp hình thành nên thực thể
của sản phẩm. Trong cùng một lúc, vốn lưu động của doanh nghiệp
được phổ biến khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều
hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục,
doanh nghiệp phải có đủ lượng vốn lưu động đầu tư vào các hình thái
khác nhau đó, khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và
đồng bộ với nhau. Như vậy, sẽ khiến cho chuyển hoá hình thái của
vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi.
Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
9
Khoá luận tốt nghiệp Mai Quang
Hợp
Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình
vận động của vật tư, cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua
sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. Nhưng mặt khác, vốn
lưu động luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số lượng vật tư
sử dụng tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu
thông sản phẩm có hợp lý không?
Bởi vậy, thông qua quá trình luân chuyển vốn lưu động còn có
thể đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt như mua sắm, dự trữ
sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp.
1.1.2- Đặc điểm của vốn lưu động
Phù hợp với các đặc điểm trên của tài sản lưu động, vốn lưu
động của các doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai
đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông.
Quá trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu
kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động.
Vốn lưu động có hai đặc điểm:
Thứ nhất, vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh
doanh và bị hao mòn hoàn toàn trong quá trình sản xuất đó. Giá trị của
nó chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm để cấu thành nên giá trị
sản phẩm.
Thứ hai, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lưu
động thường xuyên thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền
tệ ban đầu chuyyển sang vốn vật tư hàng hoá dự trữ và vốn sản xuất,
rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ tái sản
xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển.
1.1.3 - Phân loại vốn lưu động:
Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
10
Khoá luận tốt nghiệp Mai Quang
Hợp
Trong doanh nghiệp vấn đề tổ chức và quản lý vốn lưu động
có một vai trò quan trọng. Có thể nói, quản lý vốn lưu động là bộ phận
trọng yếu của công tác quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Quản lý vốn lưu động nhằm đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý,
tiết kiệm và có hiệu quả. Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng có
hiệu quả thì càng có thể sản xuất được nhiều loại sản phẩm, nghĩa là
càng tổ chức được tốt quá trình mua sắm, quá trình sản xuất và tiêu
thụ. Do vốn lưu động có rất nhiều loại mà lại tham gia vào một chu kỳ
sản xuất kinh doanh và thường xuyên thay đổi hình thái vật chất. Do
đó, muốn quản lý tốt vốn lưu động, người ta phải tiến hành phân loại
vốn lưu động theo các tiêu thức sau:
1.1.3.1- Phân loại Vốn lưu động theo vai trò từng loại vốn lưu
động trong quá trình sản xuất kinh doanh:
Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp có
thể chia thành ba loại:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị
các khoản nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực,
phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản giá
trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết
chuyển.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm các khoản giá
trị thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý ); các khoản
vốn đầu tư ngắn hạn (dầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn
hạn ) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn
trong thanh toán (các khoản phải thu, các khoản tạm ứng )
Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
11
Khoá luận tốt nghiệp Mai Quang
Hợp
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu
động trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó có
biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả
sử dụng cao nhất.
1.1.3.2- Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện:
Theo cách phân loại này vốn lưu động có thể chia thành bốn
loại:
- Vốn vật tư, hàng hoá: Là các khoản vốn có hình thái biểu hiện
bằng hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang,
bán thành phẩm, thành phẩm
- Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt
tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các
khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn
- Các khoản phải thu, phải trả:
+ Các khoản phải thu: bao gồm các khoản mà doanh nghiệp
phải thu của khách hàng và các khoản phải thu khác.
+ Các khoản phải trả: là các khoản vốn mà doanh nghiệp phải
thanh toán
cho khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phải nộp cho
Ngân sách Nhà nước hoặc thanh toán tiền công cho người lao động.
- Vốn lưu động khác: bao gồm các khoản dự tạm ứng, chi phí
trả trước, cầm cố, ký quỹ, ký cược
Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh
giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
1.1.3.3- Phân loại Vốn lưu động theo quan hệ sở hữu về vốn:
Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
12
Khoá luận tốt nghiệp Mai Quang
Hợp
Tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi hai nguồn vốn đó là vốn
chủ sở hữu và các khoản nợ. Trong đó, các khoản nợ tài trợ cơ bản
cho nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp. Còn nguồn vốn chủ sở
hữu chỉ tài trợ một phần cho nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp
mà thôi. Bởi vì nguồn vốn chủ sở hữu tài trợ cơ bản cho tài sản cố
định.
- Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi
phối và định đoạt. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng
như: Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; vốn do chủ doanh nghiệp tư
nhân bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần; vốn góp từ các
thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận
doanh nghiệp
- Các khoản nợ: Là các khoản được hình thành từ vốn vay các
ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông
qua phát hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán.
Doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng các khoản nợ này trong một thời
hạn nhất định.
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh
nghiệp được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ
các khoản nợ. Từ đó có các quyết định trong huy động và quản lý, sử
dụng vốn lưu động hợp lý hơn, đảm bảo an ninh tài chính trong sử
dụng vốn của doanh nghiệp.
1.1.3.4- Phân loại Vốn ưu động theo nguồn hình thành:
Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
13
Khoá luận tốt nghiệp Mai Quang
Hợp
Nếu xét theo nguồn hình thành thì tài sản lưu động sẽ được tài trợ
bởi các nguồn vốn sau:
- Nguồn vốn điều lệ: Là số vốn được hình thành từ nguồn vốn
điều lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng
có sự khác biệt giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế khác nhau.
- Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ
sung trong quá trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh
nghiệp được tái đầu tư.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số vốn được hình thành
từ vốn góp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh.
Vốn góp liên doanh có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư,
hàng hoá theo thoả thuận của các bên liên doanh.
- Nguồn vốn đi vay: Vốn vay của các ngân hành thương mại
hoặc tổ chức tín dụng, vốn vay của người lao động trong doanh
nghiệp, vay các doanh nghiệp khác.
- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành
cổ phiếu, trái phiếu.
Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho
doanh nghiệp thấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu
động trong kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi
nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó. Do đó doanh nghiệp cần
xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sử dụng vốn
của mình.
Quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét