Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại NHNo&PTNT VN Chi nhánh Láng Hạ

Luận văn tốt nghiệp
Không những vậy, căn cứ vào tính chất sở hữu và hình thức góp vốn
có rất nhiều loại Ngân hàng thơng mại nh Ngân hàng thơng mại quốc doanh,
ngân hàng cổ phần, liên doanh, ngân hàng nớc ngoài ở Việt Nam góp phần
đa dạng hoá các loại hình ngân hàng tại Việt Nam. Từ đó thúc đẩy sự tự do
cạnh tranh một cách lành mạnh, giúp các ngân hàng từng bớc tự phát triển,
đổi mới, mở rộng hoạt động kinh doanh.
1.2. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thơng mại.
Ngân hàng thơng mại là một đơn vị kinh doanh tiền tệ do đó các hoạt
động nghiệp vụ của ngân hàng đều hớng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
Để đạt đợc mục tiêu này Ngân hàng thơng mại trong quá trình phát triển đã
không ngừng đổi mới, không chỉ nâng cao chất lợng sản phẩm dịch vụ sẵn có
mà còn thờng xuyên nghiên cứu nhằm cung cấp các sản phẩm dịch vụ mới
phục vụ nhu cầu của ngời dân. Tuy nhiên, một Ngân hàng thơng mại luôn
luôn tiến hành 3 nghiệp vụ cơ bản :
Huy động vốn
Đối với hoạt động huy động vốn, đây là hoạt động đầu vào của ngân
hàng, ngân hàng phần lớn dựa vào việc huy động tiền vốn nhàn rỗi tạm thời
trong nền kinh tế.
Thông thờng ngân hàng có các loại tiền gửi là tiền gửi không kỳ hạn,
tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm.
Để thực hiện đợc hoạt động huy động vốn, ngân hàng cần có một lợng
vốn nhất định là vốn tự có. Lợng vốn này chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng vốn
sử dụng song nó rất quan trọng đối với hoạt động ngân hàng. Đây là cơ sở
thu hút tiền gửi của khách hàng, là nguồn để trang trải rủi ro khi gặp phải
trong kinh doanh và là chỉ tiêu để Ngân hàng Trung ơng quản lý Ngân hàng
thơng mại.
Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn ở đây bao gồm: hoạt động cho vay, hoạt động
ngân quỹ, hoạt động đầu t chứng khoán.
5
Luận văn tốt nghiệp
Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất quyết định sự thành
bại của ngân hàng bởi đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của các ngân hàng.
Chính vì vậy đây cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Để tránh rủi ro tín
dụng xảy ra, việc quản lý tiền vay đợc tiến hành một cách rất chặt chẽ, đặc
biệt với món vay lớn, thời hạn cho vay dài. Từ đó ngân hàng phải phân chia
tín dụng ra nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích dễ quản lý.
Hoạt động ngân quỹ nhằm bảo đảm khả năng thanh toán thờng xuyên
của ngân hàng cho khách hàng. Đây là tài sản không sinh lời hoặc sinh lời
thấp nhng tính lỏng cao và đợc coi nh tiền mặt. Do đó ngân hàng phải duy trì
tài sản này ở mức độ hợp lý sao cho vừa đảm bảo tính thanh khoản vừa đảm
bảo khả năng sinh lời.
Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng vốn vào hoạt động đầu t chứng khoán
trên thị trờng để thu lợi nhuận và một phần đảm bảo khả năng thanh toán cho
ngân hàng.
Hoạt động trung gian
Hoạt động trung gian là việc ngân hàng cung cấp cho khách hàng một
loạt các dịch vụ liên quan nh chuyển tiền, thanh toán hộ khách hàng thông
qua các hình thức ghi chép trên tài khoản của khách hàng, phát hành séc, uỷ
nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, th tín dụng, môi giới mua bán chứng khoán, quản lý
hộ tài sản, t vấn cho doanh nghiệp
Ngày nay trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, hoạt động ngân hàng
chịu sự cạnh tranh gay gắt từ mọi hớng, chính vì vậy các ngân hàng tiến tới
hoạt động đa năng trên nhiều lĩnh vực, cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau. Vì
vậy các dịch vụ cung cấp cho khách hàng cũng ngày càng tăng thêm nh: kinh
doanh ngoại hối, bảo lãnh, t vấn, kinh doanh chứng khoán, dịch vụ rút tiền tự
động, bảo đảm an toàn vật có giá, nghiệp vụ thuê mua, Tất cả các nghiệp vụ
đều có quan hệ chặt chẽ hỗ trợ nhau một mặt thoả mãn nhu cầu của khách
hàng một mặt mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
6
Luận văn tốt nghiệp
2. Tín dụng ngân hàng.
2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là một phạm trù kinh tế tồn tại qua các hình thức
xã hội khác nhau. Tín dụng là nghiệp vụ chính cơ bản nhất của các NHTM
chính vì vậy những về tín dụng đã đợc các nhà kinh tế tìm hiểu từ rất lâu. Tuỳ
theo các cách tiếp cận khác nhau mà ngời ta đa ra những khái niệm khác
nhau về tín dụng.
Theo cách hiểu thông thờng, tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa
hai chủ thể dựa trên nguyên tắc tin tởng nhau. Trong đó một bên chuyển giao
tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời
bên nhận tiền hay tài sản cam kết hoàn trả theo thời gian thoả thuận. Hay nói
một cách khác, tín dụng là sự chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị dới
hình thức hiện vật hay tiền tệ từ ngời sở hữu sang ngời sử dụng, sau đó hoàn
trả tại một thời điểm nhất định trong tơng lai với một lợng giá trị lớn hơn.
Theo luật NHNN, tín dụng đợc định nghĩa nh sau: Cấu thành một
nghiệp vụ tín dụng là bất cứ động tác nào qua đó ngời đa hay ngời hứa đa vốn
cho ngời khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho ngời này nh đảm bảo,
bảo chứng hay bảo lãnh có thu tiền.
2.2. Đặc điểm tín dụng ngân hàng.
Nh vậy, dù cách này hay cách khác, quan điểm về tín dụng đều thể hiện
các nội dung sau:
- Ngời cho vay sẽ chuyển giao cho ngời đi vay một lợng giá trị nhất
định. Lợng giá trị này có thể dới hình thái tiền tệ hay hiện vật nh hàng
hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản.
- Ngời đi vay chỉ đợc sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhất
định sau khi hết hạn theo thoả thuận phải hoàn trả cho ngời cho vay.
- Giá trị đợc hoàn trả thông thờng lớn hơn giá trị lúc cho vay hay nói
cách khác ngời đi vay phải trả thêm phần lợi tức.
7
Luận văn tốt nghiệp
Nh vậy ở đây - tiền không đợc bỏ ra để thanh toán hay để bán mà là để
cho vay, tiền chỉ đợc nhợng đi với điều kiện là nó sẽ quay lại điểm xuất phát
sau một thời gian nhất định - đó là đặc trng thuộc về bản chất của ngành
ngân hàng. Ngoài ra sự hoàn trả không chỉ phải bảo tồn về mặt giá trị mà còn
cần có phần tăng thêm dới hình thái lợi tức. Lợi tức về tín dụng là thu nhập
ngời cho vay nhận đợc từ khoản cho vay, nó là giá cả của hàng hoá cho vay.
2.3. Phân loại tín dụng.
Tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản nhất và cũng mang lại lợi
nhuận chủ yếu cũng nh rủi ro cho các ngân hàng. Chính vì vậy, các nhà ngân
hàng luôn phải tìm ra các tiêu thức phân loại tín dụng để có thể dễ dàng quản
lý, kiểm tra từ đó phòng tránh rủi ro tín dụng. Dựa vào các tiêu thức khác
nhau ta có thể phân loại tín dụng nh sau:
Căn cứ vào thời gian của khoản vay:
Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận về thời hạn cho vay theo
hai loại: tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung, dài hạn.
Tín dụng ngắn hạn: Đây là hình thức tín dụng thờng có thời hạn dới một
năm và mục đích thờng để đáp ứng nhu cầu thiếu vốn tạm thời nh phục vụ
cho thanh toán tiền, hàng hoá, tài trợ vốn lu động hay thanh toán ngoại th-
ơng.
Tín dụng trung, dài hạn:
Tín dụng trung hạn: Đây là hình thức tín dụng có thời hạn từ một đến
năm năm. Các khoản vay thờng với mục đích để đầu t, cải tiến máy móc,
trang thiết bị, đầu t vào một ngành kinh doanh mới.Tuy nhiên các máy móc
trang thiết bị này cần có thời hạn khấu hao không quá dài, hay dự án kinh
doanh cần có kế hoạch thu hồi vốn sớm, để có thể kịp thời trả vốn cho ngân
hàng.
Tín dụng dài hạn: Đây là các khoản tín dụng đợc cấp có thời hạn từ 6o
tháng trở lên và cũng thờng đợc sử dụng với mục đích xây nhà xởng, đầu t
dây chuyền sản xuất lớn, những dự án có thời hạn thu hồi vốn dài. Tuy nhiên
8
Luận văn tốt nghiệp
thời gian cho vay không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành
lập hoặc giấy phép thành lập đơn vị, pháp nhân và không quá 15 năm đỗi với
các dự án đầu t phục vụ đời sống.
Căn cứ theo hình thức bảo đảm:
Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: trong trờng hợp này ngân
hàng cấp tín dụng cho khách hàng mà không cần có tài sản thế chấp, cầm cố
hay bảo lãnh mà dựa vào uy tín của khách hàng. Những khách hàng đợc cấp
tín dụng loại này thờng là những khách hàng quen, đã có uy tín với ngân
hàng về việc trả đúng và đầy đủ các khoản nợ của mình từ trớc tới nay.
Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: ngân hàng cấp tín dụng cho khách
hàng dựa trên cơ sở có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh. Tài sản dùng
để thế chấp cầm cố có thể là nhà xởng, xe cộ, các khoản phải thu, các trang
thiết bị hay các tài sản hình thành từ vốn vay, vật có giá hay giấy tờ có giá.
Ngoài ra, để đảm bảo cho khoản vay có thể đợc thực hiện bằng sự bảo lãnh
của bên thứ ba đợc ngân hàng chấp nhận.
Căn cứ vào mục đích sử dụng:
Cho vay sản xuất kinh doanh: các khoản vay này thờng đợc sử dụng để
tài trợ vốn lu động của doanh nghiệp hay tài trợ cho việc xây dựng nhà xởng,
mua sắm máy móc, thiết bị, mua nguyên vật liệu
Cho vay tiêu dùng: chủ yếu phục vụ cho nhu cầu mua sắm tiêu dùng của
các hộ gia đình và cá nhân nh mua nhà cửa, xe máy, ô tô và các phơng tiện
cần thiết khác.
Căn cứ vào phơng thức cho vay:
Cho vay theo hạn mức tín dụng: theo hình thức này ngân hàng và khách
hàng thoả thuận và ký kết một hợp đồng hạn mức tín dụng duy trì theo thời
hạn nhất định hoặc theo chu kì sản xuất kinh doanh.
Cho vay từng lần: đây là hình thức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng
thoả thuận và ký kết hợp đồng riêng với mỗi khoản vay khi khách hàng có
9
Luận văn tốt nghiệp
nhu cầu. Mỗi lần khách hàng có nhu cầu vay vốn thì việc ký kết hợp đồng sẽ
đợc thực hiện lại từ đầu.
Cho vay từng dự án đầu t: tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu t, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự
án đầu t phục vụ đời sống.
Cho vay hợp vốn: đối với những khoản vay lớn, một ngân hàng không đủ
khả năng hay không đợc phép cho vay đòi hỏi một nhóm các TCTD cùng cho
vay. Trong đó có một tổ chức tín dụng đứng ra làm đầu mối dàn xếp, phối
hợp các TCTD khác để cho vay.
Cho vay trả góp: khi vay vốn ngân hàng và khách hàng xác định và thoả
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với nợ gốc đợc chia ra để trả nợ thành
nhiều kỳ trong hợp đồng vay.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: ngân hàng cam kết bảo đảm
cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tuy
nhiên nhiều trờng hợp khách hàng cần một lợng vốn lớn hơn, do đó ngân
hàng và khách hàng thờng thoả thuận một hạn mức tín dụng dự phòng lớn
hơn. Đồng thời khách hàng và ngân hàng thờng phải quy định về thời hạn
hiệu lực và mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: ngân
hàng chấp thuận cho khách hàng đựơc sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn
mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá và rút tiền mặt tại máy rút tiền
tự động hay điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng.
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thoả thuận
bằng văn bản pháp luật chấp thuận cho khách hàng chi vợt số tiền có trên tài
khoản thanh toán của khách hàng.
Căn cứ vào phơng thức trả nợ:
Trả nợ một lần: khách hàng và ngân hàng thoả thuận sẽ trả cả lãi và gốc
một lần duy nhất.
10
Luận văn tốt nghiệp
Trả nợ làm nhiều lần: ngân hàng tính toán chia khoản nợ ra thành nhiều
kỳ để khách hàng có thể dễ dàng trả nợ.
Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng nhiều phơng thức để phân loại khác nh
dựa vào hình thái tiền tệ hay dựa vào đối tợng vay từ đó để ngân hàng có
thể dễ dàng trong việc quản lý tránh nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng.
2.4. Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng.
Điều hoà vốn, thúc đẩy sản xuất và lu thông hàng hoá, đẩy nhanh
quá trình tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế. Ngân hàng là chiếc
cầu nối giữa những ngời có vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế
với những ngời cần vốn để mở rộng kinh doanh, tiêu dùng . Trên cơ
sở huy động nguồn vốn trong dân c hay đi vay các tổ chức kinh tế
khác ngân hàng tiến hành cho vay với các cá nhân, tổ chức kinh tế
đang cần vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh.
Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu thiếu
vốn. Nhờ nguồn vốn mà ngân hàng cho vay doanh nghiệp không những đảm
bảo quá trình sản xuất mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng
công nghệ hiện đại để hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của sản
phẩm trên thị trờng. Từ đó các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sản xuất lu thông
hàng hoá đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Nh vậy, tín dụng ngân
hàng đã biến các phơng tiện hoạt động có hiệu quả, thu hút nhanh chóng các
vật t lao động, những tiềm năng sẵn có khác vào sản xuất.
Tín dụng ngân hàng giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tín dụng
ngân hàng là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nếu muốn khuyến khích ngành
nghề hay thành phần kinh tế nào phát triển, ngân hàng sẽ thực
hiện u đãi tín dụng với ngành nghề hay khu vực đó. Từ đó ngân
hàng sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp đó dễ dàng tiếp cận
đợc vốn vay ngân hàng, trở thành đòn bẩy để giúp ngành nghề
đó phát triển.
11
Luận văn tốt nghiệp
Để thực hiện đợc việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục đích đã định,
các nhà ngân hàng cần phải nghiên cứu và thực thi chính sách tín dụng phù
hợp để có thể tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Điều này
đang là một vấn đề hết sức quan trọng ở nớc ta, trong tình trạng cơ cấu kinh
tế hiện nay còn nhiều bất hợp lý. Đặc biệt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế,chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế nhiều thành
phần chúng ta cần phải có những biện pháp để thúc đẩy sự tăng trởng của các
ngành công nghiệp, dịch vụ, thơng mại, du lịch bởi ở n ớc ta tỷ trọng ngành
nông nghiệp chiếm quá lớn trong khi tỷ trọng các ngành khác còn quá thấp
so với các nớc trên thế giới. Để làm đợc điều này chính sách tín dụng đóng
một vai trò hết sức quan trọng, chú trọng vào công tác tín dụng nh vậy sẽ là
một biện pháp để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện
đại hoá đất nớc.
Kích thích tính năng động linh hoạt cuả các doanh nghiệp. Trong
thời đại ngày nay, khi thông tin và công nghệ thông tin thay đổi liên
tục và phát triển một cách rất nhanh chóng, các doanh nghiệp luôn
luôn đứng trớc yêu cầu cần phải thay đổi cho phù hợp nhu cầu của
thời đại. Để thực hiện đợc điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải th-
ờng xuyên thay đổi máy móc, kỹ thuật thay nâng cấp nhà xởng, đổi
mới sản phẩm và ngân hàng chính là nơi cung cấp vốn trung và dài
hạn tốt nhất cho các doanh nghiệp. Qua đó, ngân hàng sẽ mang đến
cho doanh nghiệp cơ hội để đổi mới kích thích tính năng động của
doanh nghiệp. Không chỉ vậy, tín dụng ngân hàng còn thờng xuyên
bổ xung vốn lu động cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động giúp
doanh nghiệp nắm bắt đợc các cơ hội đầu t.
Tín dụng ngân hàng giúp tăng nhanh vòng quay của vốn, giảm lợng
tiền mặt trong lu thông. Qua đó tín dụng ngân hàng giúp Nhà nớc
tăng cờng quản lý vĩ mô nền kinh tế. Thông qua tín dụng, ngân hàng
huy động đợc một lợng lớn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, thực hiện
cho vay, đầu t vào sản xuất kinh doanh mà không cần phát hành thêm
12
Luận văn tốt nghiệp
tiền mặt. Qua đó, ngân hàng còn thực hiện đợc nhiệm vụ điều hoà vốn
giữa các vùng các ngành, các thành phần kinh tế qua đó việc quản lý,
lu thông tiền tệ sẽ đợc thực hiện tốt hơn. Hoạt động tín dụng càng mở
rộng thì càng hạn chế phơng thức thanh tóan dùng tiền mặt do ngân
hàng sử dụng phơng thức chuyển khoản, L/C từ đó giảm chi phí lu
thông tiền mặt trong nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá
trình mở rộng quan hệ giao lu kinh tế quốc tế. Trong xu thế hội nhập
quốc tế, mối quan hệ giữa các nớc trên thế giới và trong khu vực đợc
mở rộng và phát triển đa dạng cả về chiều rộng và chiều sâu. Đây là
một trong những nhân tố quan trọng tạo điều kiện đặc biệt cho các n-
ớc đang phát triển trên thế giới trong đó có nớc ta. Thực hiện chủ tr-
ơng mở rộng hợp tác kinh tế, tăng cờng các quan hệ đối ngoại do đó
đầu t vốn tín dụng thúc đẩy xuất khấu hàng hoá là mối quan tâm của
các ngân hàng trong tình hình hiện nay. Ngân hàng với t cách là tổ
chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động cho vay sẽ trở thành nền
tảng, là ngời cung cấp vốn cho các nhà đầu t kinh doanh xuất nhập
khẩu hàng hoá. Từ đó ngân hàng sẽ trở thành đòn bẩy thúc đẩy quá
trình mở rộng và giao lu kinh tế quốc tế, là phơng tiện nối liền nền
kinh tế các nớc.
Qua đó ta thấy, tín dụng ngân hàng có một vai trò đặc biệt quan trọng đối
với nền kinh tế, là phơng tiện, công cụ Nhà nớc không chỉ có thể sử dụng để
quản lý, kiểm soát mà còn sử dụng để thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế, thực
hiện các chủ trơng của Nhà nớc.
3. Tín dụng ngắn hạn.
3.1. Khái niệm tín dụng ngắn hạn.
Tín dụng ngắn hạn là một hoạt động cho vay của ngân hàng thơng mại đ-
ợc phân theo thời gian của khoản vay. Đó là những khoản vay có thời hạn
ngắn- dới 1 năm do đó khoản vay này thờng đợc dùng để đáp ứng nhu cầu
13
Luận văn tốt nghiệp
thiếu vốn tạm thời nh phục vụ cho thanh toán hàng hoá, tài trợ, bổ xung vốn
lu động hay thanh toán ngoại thơng và phục vụ nhu cầu sinh hoạt.
3.2. Đặc điểm.
- Do nguồn vốn tín dụng ngắn hạn dùng để cung cấp vốn cho chi tiêu,
mua nguyên vật liệu, trả lơng, bổ xung vốn lu động nên số vốn vay th-
ờng nhỏ, nguồn vốn đợc quay vòng nhiều. Trong khi đó đối tợng sử
dụng vốn từ nguồn trung và dài hạn thờng là những tài sản cố định có
thời gian sử dung lâu dài vì vậy thời gian sử dụng vốn lâu, nguồn vốn
không đợc quay vòng nhiều.
- Thời hạn thu hồi vốn nhanh: do vốn tín dụng ngắn hạn thờng đợc sử
dụng để bù đắp những thiếu hụt trong ngắn hạn, để đảm bảo cân bằng
ngân quỹ, giúp doanh nghiệp đối phó với những chênh lệch thu chi
trong ngắn hạn Thông thờng những thiếu hụt này chỉ mang tính tạm
thời hay mang tính mùa vụ, sau đó khoản thiếu hụt này sẽ đợc bù đắp
hoặc sẽ sớm thu lại dới hình thái tiền tệ vì vậy thời gian thu hồi vốn sẽ
nhanh.
- Rủi ro do tín dụng ngắn hạn mang lại thông thờng không cao. Do
khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian ngắn vì vậy ít chịu ảnh hởng
của sự biến động không thể lờng trớc của nền kinh tế nh các khoản tín
dụng trung và dài hạn. Ngoài ra, các khoản vay đợc cung cấp cho các
đơn vị sản xuất kinh doanh theo hình thức chiết khấu các giấy tờ có
giá, dựa trên tài sản bảo đảm, bảo lãnh đồng thời khoản vay thờng
đựơc tiến hành khi có nhu cầu cấp thiết về vốn ngắn hạn và chắc chắn
sẽ có khoản thu bù đắp trong tơng lai vì vậy rủi ro mang đến thờng
thấp.
- Lãi suất thấp: lãi suất cho vay đợc hiểu là khoản chi phí ngời đi vay trả
cho nhu cầu sử dụng tiền tạm thời của ngơì khác. Chính vì rủi ro mang
lại của khoản vay thờng không cao do đó lãi suất ngời đi vay phải trả
thông thờng nhỏ hơn lãi suất khoản vay tín dụng trung và dài hạn tơng
ứng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét