Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014
410 Phát triển bền vững ngành thủy sản vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2015
5
Kết luận chương 2 136
Chương 3 – Một số giải pháp phát triển bền vững ngành Thủy sản đồng
bằng sông Cửu Long đến năm 2015
3.1 Dự báo tình hình sản xuất, tiêu thụ thủy sản và những thách thức đối với phát
triển bền vững ngành thủy sản trong bối cảnh toàn cầu hoá
3.1.1 Toàn cầu hoá kinh tế và những tác động đến phát triển bền vững kinh tế – xã
hội nước ta 137
3.1.2 Một số dự báo về sản xuất và tiêu thụ thuỷ sản thế giới 140
3.1.3 Xu hướng tiêu dùng sản phẩm thuỷ sản thời gian tới (2006-2015) 142
3.1.4 Triển vọng tiêu thụ một số sản phẩm thủy sản chủ lực ĐBSCL 143
3.1.5 Cơ hội và thách thức đối với phát triển bền vững thuỷ sản ĐBSCL 144
3.2 Phương hướng và mục tiêu phát triển ngành thủy sản đồng bằng sông
Cửu Long đến năm 2015
3.2.1 Một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển
ngành thủy sản đồng bằng sông Cửu Long 148
3.2.2 Phương hướng và mục tiêu phát triển ngành thủy sản đồng bằng sông
Cửu Long đến năm 2015 149
3.3 Một số giải pháp phát triển bền vững ngành thủy sản ĐBSCL đến 2015
3.3.1 Các giải pháp phát triển bền vững khai thác thủy sản 152
3.3.2 Các giải pháp phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản 159
3.3.3 Các giải pháp phát triển bền vững chế biến, tiêu thụ thủy sản 170
3.3.4 Các giải pháp hỗ trợ phát triển bền vững ngành thủy sản ĐBSCL 179
3.4 Kiến nghò 191
Kết luận chương 3 196
Phần Kết luận 197
Danh mục công trình của tác giả
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
6
DANH SÁCH CÁC CỤM TỪ VÀ CHỮ VIẾT TẮT
PTBV Phát triển bền vững
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
KTTS Khai thác thủy sản
KTHS Khai thác hải sản
NTTS Nuôi trồng thủy sản
CB Chế biến
CBTS Chế biến thủy sản
XK Xuất khẩu
XKTS Xuất khẩu thủy sản
CB VÀ XKTS Chế biến và xuất khẩu thủy sản
ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm
GTGT Giá trò gia tăng
SXKD Sản xuất kinh doanh
KT – XH Kinh tế – xã hội
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
KH - CN Khoa học - công nghệ
HTX Hợp tác xã
RNM Rừng ngập mặn
CSVB Cửa sông ven biển
CSHT Cơ sở hạ tầng
UBND Uỷ ban nhân dân
ĐBSCL Đồng bằng sông cửu long
ĐBSH Đồng bằng sông hồng
BỘ KH - ĐT Bộ kế hoạch – đầu tư
BỘ KH-CN Bộ khoa học - công nghệ
BỘ NN&PTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
BỘ TN-MT Bộ tài nguyên và môi trường
CỤC BVMT Cục bảo vệ môi trường
VIỆN KT&QH Viện kinh tế và qui hoạch thủy sản
TCH Toàn cầu hoá
HNKTQT
Hội nhập kinh tế quốc tế
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
FAO Tổ chức nông lương thế giới
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
IMO Tổ chức biển quốc tế
ADB Ngân hàng phát triển châu á
7
WB Ngân hàng thế giới
ASEAN Hiệp hội các nước đông nam á
EU Liên minh châu âu
CDS
Uỷ ban của liên hợp quốc về phát triển bền vững
WCED Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển
VCEP Chương trình môi trường việt nam – canada
UNDP Chương trình phát triển liên hợp quốc
UNEP Chương trình môi trường liên hợp quốc
DANIDA Quỹ hỗ trợ phát triển đan mạch
VEPF Quỹ bảo vệ môi trường việt nam
GEF Quỹ môi trường toàn cầu
WWF Qũy bảo tồn các loài động vật hoang dã thế giới
MARPOL Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm từ dầu
RAMSAR Công ước về các vùng đất ngập nước
SOLAS Công ước về an toàn tính mạng trên biển
CITES Công ước về buôn bán quốc tế những loài động thực vật có
nguy cơ bò doạ tuyệt chủng
HDI Chỉ số phát triển con người
GINI Hệ số phân hóa thu nhập
GDP Tổng sản phẩm trong nước
ICOR Chỉ số này cho biết để tăng lên một đồng gdp cần phải có bao nhiêu
đồng vốn đầu tư
GAP Qui phạm thực hành nuôi thuỷ sản tốt
BMP Thực hành quản lý tốt
COC Qui tắc nuôi trồng có trách nhiệm
COQ Xác nhận chất lượng và dán nhãn mác sản phẩm
GMP Qui phạm saun xuaat toat
SSOP Qui phạm vệ sinh toat
MSY Sản lượng tối đa được phép khai thác
U Nguồn lợi ít được khai thác còn nhiều khả năng tăng sản lượng
M Nguồn lợi được khai thác ở mức độ vừa phải còn khả năng duy trì và
tăng sản lượng
F Nguồn lợi đã được khai thác hoàn toàn
O Nguồn lợi đã bò khai thác vượt qua giới hạn cho phép và đã cạn kiệt
D Nguồn lợi bò hoàn toàn cạn kiệt, khó khả năng tự tái tạo, phải được
khôi phục
R Nguồn lợi đã được tái tạo và khôi phục lại
8
Danh mục các bảng
Trang
Bảng 1.1 Tình hình sản lượng và xuất nhập khẩu thủy sản thế giới 36
Bảng 2.1 GDP chia theo khu vực vùng ĐBSCL qua các năm 57
Bảng 2.2 Sản lượng khai thác thuỷ sản vùng ĐBSCL 64
Bảng 2.3 Cơ cấu sản lượng khai thác thuỷ sản ĐBSCL theo sản phẩm 65
Bảng 2.4 Tàu thuyền đánh bắt xa bờ vùng ĐBSCL 71
Bảng 2.5 Diện tích, sản lượng NTTS của Việt Nam năm 2004 77
Bảng 2.6 Diện tích, sản lượng nuôi trồng thủy sản vùng ĐBSCL 78
Bảng 2.7 Phân tích kinh tế một số mô hình sản xuất
vùng Bán đảo Cà Mau 94
Bảng 2.8 Năng suất và hiệu quả kinh tế của một số mô hình nuôi thủy sản
vùng đất ngập lũ đang hiêïn hữu ở ĐBSCL 96
Bảng 2.9 Tình hình chất lượng và ATVSTP thuỷ sản ở ĐBSCL 99
Bảng 2.12 Lợi thế so sánh hàng thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam 1997-2002 107
Bảng 3.1 Các mục tiêu của ngành thuỷ sản ĐBSCL đến 2015 152
Bảng 3.2 Mục tiêu khai thác thủy sản vùng ĐBSCL đến 2015 153
Bảng 3.3 Mục tiêu phát triển nuôi trồng thuỷ sản ĐBSCL đến 2015 161
Danh mục các hình vẽ, đồ thò
Trang
Biểu đồ 2.1 Sản lượng thủy sản ĐBSCL thời kỳ 2000-2004 61
Biểu đồ 2.2 Giá trò sản xuất thủy sản ĐBSCL thời kỳ 2000-2004 62
Biểu đồ 2.3 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản vùng ĐBSCL 101
Biểu đồ 3.1 Dự báo nhu cầu tiêu thụ thủy sản thế giới những năm tới 141
Sơ đồ 2.1 Các hình thức và đối tượng nuôi trồng thủy sản vùng ĐBSCL 80
9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt nam là quốc gia ven biển ở Đông Nam á, nằm trong vùng khí hậu nhiệt
đới và cận nhiệt đới, nên có tiềm năng thủy sản to lớn, phong phú và có giá trò cao.
Đồng bằng sông cửu long (đbscl) có bờ biển dài và giàu đất ngập nước, là những
hệ sinh thái thủy sinh quan trọng, là nơi cung cấp nguồn tài nguyên đa dạng sinh
học để phát triển lâu dài ngành thủy sản.
Tiềm năng tuy lớn nhưng ngành thủy sản việt nam và vùng đbscl nói riêng
trước đây rất thô sơ lạc hậu, mang tính tự cung tự cấp cao, thủy sản chưa giải quyết
được vấn đề cơ bản là cung cấp đầy đủ cho xã hội những nhu cầu thiết yếu về thực
phẩm. Thủy sản chỉ là một nghề phụ, chưa phải là một ngành kinh tế.
Quá trình đổi mới của đất nước đã làm cho ngành thủy sản được hồi sinh,
sức sản xuất được giải phóng. Sự phát triển trong khoảng hơn một thập kỷ trở lại
đây đã có những bước đột phá rất lớn, đưa việt nam trở thành nước sản xuất thủy
sản tiên tiến trong khu vực, tăng nhanh sản lượng, gặt hái được những thành tựu
quan trọng đáng tự hào về thò trường, về uy tín, về kim ngạch xuất khẩu, Sự phát
triển của thủy sản đã góp phần đưa kinh tế – xã hội (kt – xh) thoát khỏi khủng
hoảng, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (cnh,
hđh) đất nước. Đây là xu hướng tích cực, phản ánh sự chuyển biến về chất của lónh
vực thủy sản nước ta.
Cùng với xu thế của ngành thủy sản trong cả nước, thời gian gần đây thủy
sản đbscl đã có tốc độ phát triển rất nhanh, đóng góp nhiều vào thành tích chung
của toàn ngành. Các mặt khai thác, nuôi trồng, chế biến xuất khẩu đều chiếm tỉ
trọng từ 45 – 60% cả nước. Có thể nói, chính sự phát triển của thủy sản đbscl đã
đóng góp to lớn vào phát triển kt – xh, giữ vững an ninh – quốc phòng vùng lãnh
10
thổ này. Vì vậy, xác đònh chiến lược: lấy thủy sản làm kinh tế “mũi nhọn”, cùng với
mục tiêu tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập ở vùng nông thôn, là sự lựa chọn hợp
lý, góp phần thúc đẩy kt – xh vùng đbscl phát triển.
Mặc dù có nhiều thành tựu đáng ghi nhận, song cần khẳng đònh rằng, những
hạn chế của thủy sản vẫn chưa được giải quyết triệt để, vẫn đang trong vòng luẩn
quẩn: sản xuất tự phát, nguồn nguyên liệu không ổn đònh, dòch bệnh thường xuyên,
nguồn lợi cạn kiệt; hạ tầng yếu kém, công nghệ, chất lượng hàng hóa, năng lực
cạnh tranh chưa cao; cuộc sống ngư nông dân còn bấp bênh, nhiều vấn đề xã hội
nghề cá vẫn còn gay gắt, bức xúc. Các hoạt động sản xuất thủy sản đang diễn ra
với tốc độ nhanh, mạnh, và đa dạng đã gây sức ép lớn về nhiều mặt, và trong
chừng mực nhất đònh đã ảnh hưởng đến chính hiệu quả sản xuất của ngành. Phát
triển thủy sản thời gian qua quan tâm lớn đến mục tiêu kinh tế, chưa kết hợp hài
hoà các mục tiêu xã hội, bảo vệ môi trường; tập trung lợi ích trước mắt, ít quan tâm
đònh hướng phát triển lâu dài để nhằm đáp ứng những nhu cầu trong tương lai, đã
dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng có tính chất lâu dài về tài nguyên thiên nhiên,
môi trường sinh thái, xã hội. Nhìn chung, quá trình phát triển vừa qua thiếu tính bền
vững về môi trường, nguồn lợi tự nhiên, thiếu tính bền vững của các vấn đề kt – xh
nghề cá.
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế càng sâu, các rào cản và tranh chấp
thương mại quốc tế phát sinh ngày càng nhiều, thò trường tiêu thụ, giá cả xuất khẩu
diễn biến phức tạp, càng làm cho sản xuất thủy sản chứa đựng nhiều yếu tố thiếu
vững chắc. Bên cạnh đó, toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và những tác động
của nó cũng đồng thời mở ra nhiều cơ hội mới cho phát triển thủy sản. Bùng nổ dân
số thế giới, quá trình đô thò quá nhanh cũng sẽ làm cho sản phẩm thủy sản quan
trọng trong tương lai. Ngành sản xuất này đang và đầy hứa hẹn có thể trở thành
ngành sản xuất kinh doanh có lãi suất cao với xu thế ổn đònh lâu dài trên thò trường
thế giới. Đây là tiền đề quan trọng bậc nhất của sản xuất kinh doanh thủy sản và là
11
một trong những xuất phát điểm quan trọng trong xây dựng chiến lược, qui hoạch
phát triển KT – XH ngành Thủy sản.
Trong bối cảnh đó, thủy sản có những mục tiêu mới, không chỉ là cung cấp
đủ thực phẩm cho dân cư nữa, mà phải trở thành một cực tăng trưởng của nền kinh
tế, phát triển tốc độ cao với chi phí sử dụng tài nguyên hợp lý, bảo vệ môi trường,
tham gia tích cực giải quyết các vấn đề xã hội nghề cá. Như vậy, thủy sản cần được
xem là một trong những ngành kinh tế kỹ thuật cần ưu tiên xem xét phát triển theo
hướng bền vững.
Để đạt những mục tiêu trên đòi hỏi ngành Thủy sản ĐBSCL cần có sự tìm
kiếm phương thức phát triển mới và chuyển biến cho phù hợp. Từ đó cho thấy, xây
dựng đònh hướng lâu dài với những giải pháp phát triển bền vững ngành Thủy sản
ĐBSCL là việc làm cần thiết và cấp bách.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa các cơ sở lý luận, đánh giá tiềm năng và các nhân
tố tác động, mục tiêu của đề tài luận án nhằm:
1 Nghiên cứu và vận dụng lý thuyết phát triển bền vững để phân tích thực
trạng ngành Thủy sản ĐBSCL (khai thác, nuôi trồng và chế biến, tiêu thụ thủy
sản), trong những năm qua theo quan điểm phát triển bền vững.
2. Đi sâu nghiên cứu để làm rõ những mâu thuẫn cụ thể giữa phát triển kinh tế
thủy sản với bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái; nhận diện những vấn đề xã
hội đang nảy sinh trong quá trình phát triển nghề cá ĐBSCL.
3. Đưa ra hệ thống giải pháp phát triển bền vững ngành Thủy sản đồng bằng
sông Cửu Long đến năm 2015.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu ngành Thủy sản ĐBSCL (và có xem xét trong
tổng thể Việt Nam), bao gồm các lónh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến và tiêu
thụ thủy sản. Cụ thể hơn là nghiên cứu tiềm năng nguồn lợi, sản lượng thủy sản,
12
thực trạng của các tàu đánh cá, các hợp tác xã nghề cá, các hộ nuôi trồng, các
doanh nghiêïp chế biến và xuất khẩu thủy sản, Xem xét những yếu tố có liên
quan đến phát triển (như: nguồn lực lao động, vốn, khoa học - công nghệ, tài
nguyên môi trường, cơ chế chính sách và tổ chức quản lý, ), và đánh giá tính hiệu
quả của việc sử dụng các nguồn lực nói trên để phát triển thủy sản. Việc sử dụng
các nguồn lực đó phải trên quan điểm phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và
môi trường.
Do có nhiều hạn chế nên luận án tập trung nhiều hơn vào một số tỉnh vùng
ven biển thuộc bán đảo Cà Mau và một số tỉnh vùng ngập lũ thuộc tứ giác Long
Xuyên. Chúng tôi cho rằng, khảo sát như vậy cũng đủ mang tính đại diện phổ biến,
vì đây là những tỉnh có vò trí quan trọng trong ngành Thủy sản ĐBSCL (chiếm tỷ
trọng cao trong sản lượng khai thác, nuôi trồng và chế biến xuất khẩu).
4. Tổng quan các đề tài có liên quan và điểm mới của luận án
4.1 Tình hình nghiên cứu về ngành Thủy sản Việt Nam và lónh vực thủy sản
vùng ĐBSCL.
Về ngành Thủy sản Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu bao gồm
cả ở giác độ kỹ thuật, giác độ kinh tế. Thời gian gần đây có các công trình nghiên
cứu lớn như: “Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH ngành Thủy sản Việt Nam
đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” vừa được Chính phủ phê duyệt; Hoặc
“Phát triển nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh ven biển – một năm thực hiện Nghò
quyết 09/2000/NQ-CP của Chính phủ”, đề tài khoa học cấp Bộ; “Đònh hướng phát
triển thủy sản Việt Nam đến 2010”, đề tài khoa học cấp Bộ do GS.TS Hoàng Thò
Chỉnh làm chủ nhiệm; và “Những giải pháp thò trường cho sản phẩm thuỷ sản xuất
khẩu của Việt Nam”, đề tài khoa học cấp Bộ do GS.TS Võ Thanh Thu làm chủ
nhiệm. Nhìn chung, các công trình trên có ý nghóa lý luận và thực tiễn rất lớn, đã
phân tích toàn diện ngành Thủy sản Việt Nam từ khai thác, nuôi trồng, chế biến,
đến tiêu thụ thủy sản, đồng thời đưa ra các đònh hướng phát triển, các quy hoạch về
13
phân bổ lực lượng sản xuất thủy sản, và nhiều giải pháp thực hiện.
Nghiên cứu tổng quát các vấn đề KT – XH và môi trường của ĐBSCL nói
chung, đã có nhiều công trình của các tổ chức, nhà khoa học trong nước và quốc tế.
Ví dụ: “Nghiên cứu tổng quát về khai thác và sử dụng nguồn nước sông Mê Kông”
do Ủy ban quốc tế sông Mê Kông chủ trì, đã có những nhận dạng về dòng chảy,
chất lượng nước. Dự án “Quy hoạch tổng thể ĐBSCL” (VIE 87/031) được thực hiện
năm 1990 – 1993 dưới sự tài trợ của UNDP, do công ty tư vấn NEDECO (Hà Lan)
làm cố vấn kỹ thuật, đã nghiên cứu đề ra phương hướng tổng quát phát triển
ĐBSCL. Hoặc những dự án nghiên cứu về hệ thống thủy lợi toàn vùng,
Riêng về thủy sản vùng ĐBSCL, nhận thức được tầm quan trọng của lónh
vực này, Nhà nước cũng đã tập trung nhiều đầu tư nghiên cứu. Ví dụ: “Điều tra các
yếu tố môi trường sinh thái, mô hình sản xuất, hiện trạng KT – XH để xác đònh cơ
cấu nuôi trồng thủy sản bền vững ở đồng bằng Nam bộ”, đề tài cấp Bộ, mã số DA
10 do Tiến só Nguyễn Việt Thắng làm chủ nhiệm; Hay “Đề án Quy hoạch tổng thể
phát triển nuôi trồng thủy sản vùng ĐBSCL thời kỳ 2002 – 2010”.
Có thể thấy, thủy sản đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa
học và các cơ quan quản lý thuộc nhiều lónh vực khác nhau. Các mặt, các khía cạnh
khác nhau của hoạt động thủy sản đã được phân tích khá sâu sắc và cặn kẽ. Hơn
thế nữa, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu phát triển thủy sản còn đặt
trong mối liên hệ mật thiết với vấn đề tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái,
giải quyết công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo. Nhờ đó, nhận thức về thủy sản
đã trở nên rất sâu rộng. Hay nói theo ngôn ngữ nông học, lónh vực thủy sản đã được
“thâm canh cao độ”.
4.2 Sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu ở trên chưa đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ
vấn đề phát triển tổng thể, hài hòa kinh tế – xã hội – môi trường ngành Thủy sản
theo hướng phát triển bền vững. Và trong các công trình trên, việc nghiên cứu toàn
14
diện ngành Thủy sản ĐBSCL trên bình diện tổng thể vùng để phát triển bền vững
là chưa nhiều. Là người được sinh ra, lớn lên tại vùng ĐBSCL, và qua thực tiễn
trực tiếp công tác, gắn bó với các đòa phương ĐBSCL, chúng tôi thấy, đối với
ngành Thủy sản ĐBSCL cần phải được nghiên cứu và quản lý theo hướng không
chia cắt một cách máy móc theo các đòa giới hành chính. Bởi các lý do sau:
- Các tỉnh vùng ĐBSCL có nhiều điểm tương đồng nhau về đòa hình, chế độ
thủy văn, điều kiện khí hậu, có hệ thống thủy lợi liên thông giữa các tỉnh với
nhau,… từ đó đã tạo ra hệ thống các yếu tố sinh thái, các đặc điểm thủy lý hoá có
ảnh hưởng qua lại giữa các tỉnh trong phát triển thủy sản.
- Nhiều nét tương đồng nhau đã tạo ra sự bắt chước, sao chép lẫn nhau trong
việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, khai thác lợi thế so sánh ở mỗi tỉnh thành
trong vùng để phát triển kinh tế, đã gây ra không ít khó khăn, chồng chéo trong
việc giải quyết các vấn đề lớn của toàn vùng như: lũ lụt, môi trường, sản xuất và
tiêu thụ nông thủy sản, nguồn nhân lực. Chẳng hạn nguồn nước ở Sóc Trăng bò ô
nhiểm thì nuôi tôm ở Bạc Liêu, Cà Mau chắc chắn sẽ bò ảnh hưởng. Các tỉnh đầu
nguồn (An Giang, Đồng Tháp) nuôi cá tra được, thì ở Cần Thơ, Sóc Trăng… cũng
phát triển được đối tượng này. Và có thể xảy ra tình trạng cung vượt cầu do mạnh
ai nấy làm, đang là một thực tế đáng báo động.
Nhưng trước đây việc nghiên cứu phát triển thủy sản được tiến hành riêng rẽ
và thực tế quản lý, tổ chức sản xuất mang tính cục bộ từng đòa phương; chỉ đạo, quy
hoạch phát triển thủy sản giữa các đòa phương ĐBSCL thiếu tính phối hợp trong
toàn vùng, đã hạn chế sức phát triển của tổng thể vùng kinh tế, thậm chí còn cạnh
tranh, kìm hãm, khó quản lý chất lượng con giống và chất lượng nguồn nước để
tránh tình trạng dòch bệnh lây nhiễm giữa các đòa phương trong vùng, hoặc khó
quản lý tình trạng tranh mua nguyên liệu đầu vào, tranh tìm thò trường tiêu thụ,
Thủy sản vùng ĐBSCL chưa hoàn thiện xây dựng chiến lược phát triển trên phạm
vi toàn vùng, vàø trên cơ sở đó lựa chọn bố trí thích ứng cho các tiểu vùng dựa trên
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét