Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Tổ chức công tác Kế toán bán hàng & xác định kết quả bán hàng ở Công ty XNK Y Tế I Hà Nội

1.1.2. Vai trò của tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng.
Trong nền kinh tế thị trờng, để tồn tại và phát triển thì không một doanh
nghiệp nào hoạt động đơn lẻ. Nó có mối quan hệ mật thiết với nhiều đối tợng khác
nh: các doanh nghiệp bạn, các nhà đầu t, nhà nớc đặc biệt là các khách hàng. Các
đối tợng này quan tâm đến kết quả hoạt động kinh doanh của nhau để từ đó đa ra
những quyết định có lợi cho mình nhất. Kế toán nói chung, kế toán bán hàng và xác
định kết quả bán hàng nói riêng luôn là công cụ đắc lực trong hệ thống các công cụ
quản lý để cung cấp thông tin phục vụ các đối tợng này.
Số liệu mà kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng cung cấp cho phép
doanh nghiệp nắm đợc tình hình tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp mình, biết đợc
hàng hoá tồn kho nhiều hay ít, kinh doanh có lãi không để từ đó điều chỉnh lại kế
hoạch dự trữ hàng hoá và đa ra các chiến lợc kinh doanh mới nh: có nên chuyển hớng
kinh doanh hay không, có nên mở rộng quy mô kinh doanh hay không hoặc có nên
tung ra thị trờng loại sản phẩm mới hay không Số liệu này cũng là căn cứ để doanh
nghiệp tìm ra các biện pháp nhằm hạn chế sự thất thoát hàng hoá làm tổn hại đến lợi
ích chung của toàn doanh nghiệp.
Từ số liệu do kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng cung cấp, nhà nớc sẽ
thực hiện việc kiểm tra, giám sát tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp từ đó đa
ra các công cụ, chính sách thích hợp nhằm thực hiện các kế hoạch, đờng lối phát
triển nhanh chóng và toàn diện nền kinh tế quốc dân.
Còn các nhà kinh doanh, nhà cung cấp, nhà đầu t sẽ dựa vào đó để nắm bắt đợc
tình hình kinh doanh của doanh nghiệp phục vụ cho việc đa ra các quyết định kinh
doanh của mình ví dụ nh có nên tiếp tục quan hệ làm ăn với doanh nghiệp hay
không, có nên cho vay hay đầu t vào doanh nghiệp hay không?
Qua những phân tích trên đây, ta thấy đợc mục đích của kế toán bán hàng và xác
định kết quả bán hàng là xử lý, cung cấp những thông tin cần thiết cho các đối tợng
sử dụng khác nhau để đa ra các quyết định kinh doanh phù hợp. Đó chính là vai trò
quan trọng của tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh
nghiệp.
5
1.1.3. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong
doanh nghiệp.
Để thực hiện tốt chức năng và vai trò quan trọng trong công tác quản lý, kế toán
bán hàng và xác định kết quả có nhiệm vụ sau :
- Ghi chép đầy đủ, kịp thời khối lợng hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ đã bán ra,
tính toán đúng đắn trị giá vốn của hàng đã bán, các khoản chi phí đã bỏ ra trong quá
trình bán hàng nhằm xác định đúng đắn kết quả bán hàng.
- Kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng, kế hoạch phân phối
lợi nhuận, kỷ luật thanh toán và thực hiện nghĩa vụ với nhà nớc.
- Cung cấp thông tin trung thực và đầy đủ về tình hình bán hàng, xác định và
phân phối kết quả phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và quản lý doanh nghiệp.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
cần phải thực hiện đợc các yêu cầu sau:
Thứ nhất: Xác định đúng thời điểm hàng hoá đợc coi là tiêu thụ để kịp thời lập báo
cáo bán hàng và phản ánh doanh thu. Phản ánh thờng xuyên, kịp thời tình hình bán
hàng và thanh toán với khách hàng, đảm bảo giám sát chặt chẽ lợng hàng tiêu thụ cả
về mặt số lợng lẫn chất lợng Đồng thời đôn đốc việc thu tiền hàng, tránh hiện tợng
thất thoát tiền hàng, ảnh hởng đến kết quả chung của toàn đơn vị.
Thứ hai: Tổ chức chứng từ ban đầu và trình tự luân chuyển hợp lý, hợp pháp, đảm
bảo yêu cầu quản lý và nâng cao hiệu quả công tác kế toán. Tổ chức vận dụng hệ
thống tài khoản và sổ sách phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Thứ ba : Xác định đúng và tập hợp đầy đủ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng, phân bổ chi phí hợp lý cho số hàng còn lại
cuối kỳ và kết chuyển chi phí cho hàng tiêu thụ trong kỳ để xác định kết quả bán
hàng một cách chính xác.
Khi thực hiện tốt các yêu cầu trên nó sẽ đem lại hiệu quả thiết thực cho công tác
tiêu thụ nói riêng và cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung, góp
phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp đồng thời
cung cấp thông tin một cách kịp thời, đầy đủ cho các đối tợng sử dụng thông tin.
1.2. Những vấn đề chung về bán hàng và xác định kết quả bán hàng.
1.2.1. Các phơng thức bán hàng và phơng thức thanh toán.
6
1.2.1.1. Các phơng thức bán hàng.

Quá trình bán hàng ở các doanh nghiệp thơng mại là quá trình vận động của vốn
kinh doanh từ vốn hàng hoá sang vốn bằng tiền và hình thành kết quả kinh doanh.
Bán hàng ở các doanh nghiệp thơng mại bao gồm hai khâu: khâu bán buôn và khâu
bán lẻ, ở từng khâu thì sẽ có các phơng thức bán hàng tơng ứng với từng khâu đó.
*Đối với khâu bán buôn thờng sử dụng các phơng thức bán hàng sau:
Bán buôn qua kho: Hàng hóa xuất từ kho của doanh nghiệp để bán cho ngời mua.
Trong phơng thức này lại chia thành 2 hình thức:
Bán trực tiếp qua kho: Theo hình thức này, doanh nghiệp xuất hàng từ kho giao trực
tiếp cho ngời mua do bên mua uỷ nhiệm đến nhận hàng trực tiếp. Hàng hoá đợc coi
là bán khi ngời mua đã nhận hàng và ký xác nhận trên chứng từ bán hàng, còn việc
thanh toán tiền bán hàng với bên mua tuỳ thuộc vào hợp đồng đã ký giữa hai bên.
Bán qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, doanh nghiệp xuất
hàng từ kho chuyển cho ngời mua bằng phơng thức vận tải tự có hoặc thuê ngoài.
Hàng hoá gửi đi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Chỉ khi nào ngời mua
xác nhận đã nhận đợc hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì hàng hoá mới chuyển
quyền sở hữu và đợc coi là tiêu thụ.
Bán buôn vận chuyển thẳng: Theo phơng thức bán hàng này, doanh nghiệp mua
hàng của bên cung cấp để bán thẳng cho ngời mua. Phơng thức này cũng đợc chia
thành hai hình thức:
Bán vận chuyển thẳng trực tiếp:Theo hình thức này, doanh nghiệp mua hàng của
bên cung cấp để giao bán thẳng cho ngời mua do bên mua uỷ nhiệm đến nhận hàng
trực tiếp ở bên cung cấp hàng cho doanh nghiệp. Hàng hoá chỉ đợc coi là bán khi ng-
ời mua đã nhận đủ hàng và ký xác nhận trên chứng từ bán hàng của doanh nghiệp,
còn việc thanh toán tiền bán hàng với bên mua tuỳ thuộc vào hợp đồng đã ký kết
giữa hai bên.
Bán vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, doanh
nghiệp mua hàng của bên cung cấp và chuyển hàng đi để bán thẳng cho bên mua
bằng phơng tiện vận tải tự có hoặc thuê ngoài. Hàng hoá gửi đi vẫn thuộc quyền
7
sở hữu của doanh nghiệp, khi nào bên mua xác nhận đã nhận đợc hàng hoặc chấp
nhận thanh toán thì doanh nghiệp mới coi là thời điểm bán hàng.
* Đối với khâu bán lẻ thờng sử dụng hai phơng thức bán hàng sau:
Ph ơng thức bán hàng thu tiền trực tiếp: Theo phơng thức bán hàng này, nhân viên
bán hàng trực tiếp chịu trách nhiệm vật chất về số hàng đã nhận để bán ở quầy hàng.
Nhân viên bán hàng trực tiếp giao hàng và thu tiền của khách hàng. Thông thờng
không cần lập chứng từ cho từng nghiệp vụ bán hàng. Tuỳ theo yêu cầu quản lý (có
thể theo ca, ngày hoặc kỳ) nhân viên bán hàng kiểm kê lợng hàng hoá hiện còn ở
quầy hàng và dựa vào lợng hàng của từng ca, ngày, kỳ để xác định số lợng hàng bán
ra của từng mặt hàng lập báo cáo bán hàng trong ca, ngày, kỳ.
Ph ơng thức bán hàng thu tiền tập trung: Theo phơng thức này, nghiệp vụ giao
hàng và thu tiền của khách tách rời nhau. Mỗi quầy hàng bố trí nhân viên thu ngân
làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết hoá đơn để khách hàng nhận hàng ở quầy hàng
do nhân viên bán hàng giao. Cuối ca hoặc ngày, nhân viên thu ngân làm giấy nộp
tiền bán hàng để nhân viên bán hàng căn cứ vào hoá đơn kiểm kê hàng còn lại cuối
ca, ngày để xác định lợng hàng đã bán rồi lập báo cáo trong ngày, trong ca.
1.2.1.2. Các phơng thức thanh toán.
Trong kinh doanh, doanh nghiệp có quan hệ kinh tế với nhiều đối tợng nh các
khách hàng, các tổ chức kinh tế về các nghiệp vụ tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá dịch
vụ. Khi đó làm phát sinh các loại tài sản mà doanh nghiệp phải thu của các cá nhân,
đơn vị khác gọi là các khoản phải thu. Việc quản lý tài sản này đóng một vai trò vô
cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vì khi quản lý tốt, nó
sẽ giúp doanh nghiệp tránh đợc những mất mát về tiền hàng, không để xảy ra trờng
hợp chiếm dụng vốn một cách bất hợp pháp làm ảnh hởng đến lợi ích chung của
doanh nghiệp.
Hiện nay các doanh nghiệp thơng mại áp dụng các phơng thức thanh toán sau:
Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt:Theo phơng thức này, khi ngời mua nhận đợc
hàng từ doanh nghiệp thì sẽ thanh toán ngay cho doanh nghiệp bằng tiền mặt hoặc
nếu đợc sự đồng ý của doanh nghiệp thì bên mua sẽ ghi nhận nợ để thanh toán trong
thời gian sau này.Thông thờng phơng thức này đợc sử dụng trong
8
trờng hợp ngời mua là những khách hàng nhỏ, mua hàng với khối lợng không nhiều
và cha mở tài khoản tại ngân hàng.
Thanh toán qua ngân hàng: Trong phơng thức này ngân hàng đóng vai trò trung
gian giữa doanh nghiệp và khách hàng làm nhiệm vụ chuyển tiền từ tài khoản của
ngời mua sang tài khoản của doanh nghiệp và ngợc lại. Trong phơng thức này có
nhiều hình thức thanh toán nh: Thanh toán bằng séc, bằng th tín dụng, thanh toán bù
trừ, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi Phơng thức này thờng đợc sử dụng trong trờng hợp
ngời mua là những khách hàng lớn, hoạt động ở vị trí cách xa doanh nghiệp và đã mở
tài khoản ở ngân hàng.
Trong tơng lai phơng thức này sẽ đợc sử dụng rộng rãi vì những tiện ích của nó
đồng thời làm giảm đáng kể lợng tiền mặt trong lu thông, tạo điều kiện thuận lợi để
nhà nớc quản lý vĩ mô nền kinh tế .
1.2.2. Doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu.
Doanh thu: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu đợc trong một kỳ kế
toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thờng của doanh nghiệp,
góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Doanh thu bán hàng: Là toàn bộ tiền bán sản phẩm, hàng hoá, tiền cung cấp dịch
vụ cho khách hàng bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) .
ở các doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ thì doanh
thu bán hàng không bao gồm thuế GTGT, còn ở các doanh nghiệp áp dụng phơng
pháp tính thuế trực tiếp thì doanh thu bán hàng là trị giá thanh toán của số hàng đã
bán.
Theo chuẩn mực kế toán số 14 Doanh thu và thu nhập khác thì doanh thu bán
hàng đợc ghi nhận khi đồng thời thoả mãn tất cả 5 điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu
sản phẩm hoặc hàng hóa cho ngời mua.
- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá nh ngời sở hữu hàng hoá
hoặc quyền quản lý hàng hoá.
- Doanh thu đợc xác định tơng đối chắc chắn.
- Doanh nghiệp đã thu đợc hoặc sẽ thu đợc lợi ích kinh tế từ hoạt động bán hàng.
- Xác định đợc chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
9
Doanh thu bán hàng thuần (DTT): Là khoản chênh lệch giữa doanh thu bán hàng
và các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm: Giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại,
thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu tính trên doanh thu bán hàng thực tế mà
doanh nghiệp đã thực hiện trong một kỳ kế toán.
Doanh thu bán hàng thuần mà doanh nghiệp thu đợc có thể thấp hơn doanh thu
bán hàng do các nguyên nhân nh doanh nghiệp giảm giá hàng đã bán cho khách
hàng, hàng bán bị trả lại hoặc phải nộp thuế TTĐB, thuế XNK
Các khoản giảm trừ doanh thu.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt nh hiện nay, để đẩy nhanh quá trình tiêu thụ
sản phẩm, thu hồi nhanh chóng tiền bán hàng, doanh nghiệp cần đa ra các chính sách
nhằm thu hút, khuyến khích khách hàng nh: Nếu khách hàng mua với khối lợng lớn
thì sẽ đợc giảm giá, nếu hàng hoá của doanh nghiệp kém phẩm chất thì khách hàng
có thể trả lại hoặc không chấp nhận thanh toán hoặc yêu cầu doanh nghiệp giảm
giá Cụ thể:
Chiết khấu thơng mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách
hàng mua hàng với khối lợng lớn.
Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho ngời mua do hàng hoá kém phẩm chất,
sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lợng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị
khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.
Các khoản thuế: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng
đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ bán ra của cơ sở nộp thuế theo phơng pháp trực
tiếp.
1.2.3. Phơng pháp xác định trị giá vốn hàng bán.
1.2.3.1. Tính trị giá vốn hàng xuất kho để bán.
Hàng hoá là các loại vật t, sản phẩm do doanh nghiệp mua về với mục đích để bán.
Trị giá hàng hoá mua vào bao gồm: giá mua theo hoá đơn và chi phí thu mua hàng
hoá. Trờng hợp doanh nghiệp mua để bán nhng phải qua gia công, sơ chế để làm
tăng thêm giá trị hoặc khả năng bán của hàng hoá thì trị giá hàng mua bao gồm giá
mua theo hoá đơn cộng chi phí gia công sơ chế. Đối với hàng hoá nhập khẩu thì
ngoài các chí phí trên còn bao gồm cả thuế nhập khẩu, chi phí bảo hiểm.
10
* Đối với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phơng pháp KKTX.
Trị giá vốn hàng xuất kho để bán bao gồm trị giá mua thực tế và chi phí mua của
số hàng hoá đã xuất kho để bán.
Có thể tính trị giá mua thực tế của hàng hoá xuất kho theo các phơng pháp sau:
Ph ơng pháp tính theo giá đích danh: Theo phơng pháp này, căn cứ vào số lợng xuất
kho và đơn giá nhập kho của lô hàng xuất kho dể tính.
Ph ơng pháp bình quân gia quyền : Theo phơng pháp này, giá trị của từng loại hàng
tồn kho đợc tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tơng tự đầu kỳ và
giá trị từng loại hàng tồn kho đợc mua hoặc sản xuất trong kỳ.
Trị giá mua thực tế của Trị giá mua thực tế của
* Đơn giá hàng tồn đầu kỳ hàng nhập trong kỳ
bình quân Số lợng hàng tồn đầu kỳ + Số lợng hàng nhập trong kỳ
* Trị giá thực tế của
hàngxuất kho
Ph ơng pháp nhập tr ớc, xuất tr ớc: Theo phơng pháp này, giả thiết số hàng nào nhập
kho trớc thì xuất trớc và lấy trị giá mua thực tế của số hàng đó để tính.
Ph ơng pháp nhập sau, xuất tr ớc: Theo phơng pháp này, giả thiết số hàng nào nhập
kho sau thì xuất trớc và lấy trị giá mua của lô hàng đó để tính.
Ph ơng pháp tính theo giá hạch toán: Đối với doanh nghiệp mua hàng hoá, thờng
xuyên có sự biến động về giá cả, số lợng và cả chủng loại hàng hoá nhập, xuất kho
nhiều thì có thể sử dụng giá hạch toán để tính trị giá vốn của hàng xuất kho. Giá
hạch toán là loại giá ổn định do doanh nghiệp tự xây dựng. Việc nhập, xuất kho hàng
hoá hàng ngày đợc thực hiện theo giá hạch toán. Cuối kỳ, kế toán phải tính ra giá
thực tế để ghi sổ kế toán tổng hợp. Để tính đợc trị giá vốn thực tế của hàng xuất kho,
trớc hết phải tính hệ số giá giữa giá thực tế và giá hạch toán.
11
=
+
Số lợng hàng xuất kho Đơn giá bình quân
x=
Hệ số giá (H)
Trị giá thực tế của + Trị giá thực tế của
hàng tồn đầu kỳ hàng nhập trong kỳ
Trị giá hạch toán + Trị giá hạch toán
hàng tồn đầu kỳ hàng nhập trong kỳ
=
Trị giá thực tế của Trị giá hạch toán
hàng xuất trong kỳ hàng xuất trong kỳ
Tính toán phân bổ chi phí mua hàng cho hàng xuất kho:
Chi phí mua phân + Chi phí mua hàng
* Chi phí mua bổ cho hàng đầu kỳ phát sinh trong kỳ Trị giá
phân bổ cho = x mua của
hàng xuất kho Trị giá mua của hàng + Trị giá mua của hàng hàng
tồn đầu kỳ nhập trong kỳ xuất kho
*Trị giá vốn hàng = Trị giá mua + Chi phí mua phân bổ
xuất kho bán cho hàng đã xuất kho bán
* Đối với doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phơng pháp KKĐK
Theo phơng pháp này, cuối kỳ doanh nghiệp kiểm kê hàng tồn kho và tính trị giá
vốn thực tế của hàng xuất kho theo công thức sau:
* Trị giá vốn thực Trị giá vốn thực Trị giá vốn thực Trị giá vốn thực
tế của hàng hoá = tế của hàng hoá + tế của hàng hoá + tế của hàng hoá
xuất trong kỳ tồn đầu kỳ nhập trong kỳ tồn cuối kỳ
1.2.3.2. Tính trị giá vốn hàng đã bán.
Sau khi tính đợc trị giá vốn hàng xuất để bán và chi phí bán hàng, chi phí quản lý
doanh nghiệp của số hàng đã bán, kế toán tổng hợp lại để tính trị giá.
* Trị giá vốn hàng = Trị giá vốn hàng xuất kho + CPBH và CPQLDN của số
đã bán để bán hàng đã bán
Đối với các doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ ngắn, doanh nghiệp thơng mại dự trữ
hàng hoá giữa các kỳ không có biến động lớn thì CPBH và CPQLDN phát sinh trong
kỳ đợc phân bổ toàn bộ cho số hàng đã bán.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ dài, doanh nghiệp thơng mại dự trữ
hàng hoá lớn, doanh thu không ổn định, CPBH và CPQLDN cần phải đợc tính toán,
phân bổ hợp lý cho số hàng đã bán và số hàng còn tồn trong kho.
Thờng các doanh nghiệp tiến hành phân bổ CPBH, CPQLDN cho hàng đã bán theo
tiêu chuẩn trị giá hàng xuất bán nh sau:
12
x
=
Hệ số giá ( H)
* CPBH(CPQLDN) CPBH(CPQLDN) + CPBH(CPQLDN) Trị giá
phân bổ cho số = của hàng tồn đầu kỳ phát sinh trong kỳ x vốn hàng
hàng đã bán Trị giá vốn hàng tồn + Trị giá vốn hàng đã bán
đầu kỳ nhập trong kỳ trong kỳ
1.2.4. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
1.2.4.1. Chi phí bán hàng.
Chi phí bán hàng là chi phí lu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình
tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ nh chi phí bao gói sản phẩm, bảo quản hàng
hoá, chi phí vận chuyển, tiếp thị hàng hoá
Theo quy định hiện hành CPBH của doanh nghiệp bao gồm các loại chi phí sau:
(1) Chi phí nhân viên: Bao gồm các khoản tiền lơng, tiền phụ cấp phải trả cho
nhân viên bán hàng và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lơng theo
quy định.
(2) Chi phí vật liệu, bao bì: Bao gồm các chi phí để bao gói sản phẩm, bảo quản,
nhiên liệu trong quá trình vận chuyển hàng hoá
(3) Chi phí dụng cụ, đồ dùng: Bao gồm chi phí về công cụ, dụng cụ đo lờng, tính
toán, làm việc trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá.
(4) Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm chi phí khấu hao về nhà kho, cửa
hàng, phơng tiện bốc dỡ, vận chuyển
(5) Chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá: Bao gồm các chi phí bỏ ra để sửa chữa,
bảo hành sản phẩm, hàng hoá trong thời gian quy định.
(6) Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm chi phí thuê TSCĐ, thuê kho, bãi, thuê
bốc vác, vận chuyển, hoa hồng cho các đại lý bán hàng
(7) Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ
sản phẩm ngoài những khoản chi phí kể trên nh chi phí tiếp khách, chi phí quảng
cáo, tiếp thị
Cuối kỳ hạch toán, chi phí bán hàng đợc kết chuyển, phân bổ để xác định kết quả
kinh doanh tuỳ theo từng loại hình và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp:
+Đối với doanh nghiệp sản xuất, nếu chu kỳ kinh doanh dài, trong kỳ không có
hoặc có ít sản phẩm tiêu thụ thì cuối kỳ hạch toán phân bổ và kết chuyển toàn bộ
13
(hoặc một phần) CPBH sang theo dõi ở loại chi phí chờ kết chuyển tơng ứng với số
sản phẩm cha tiêu thụ.
+Đối với doanh nghiệp thơng mại, trờng hợp doanh nghiệp có dự trữ hàng hoá
giữa các kỳ có biến động lớn cần phân bổ một phần chi phí bảo quản cho số hàng
còn lại cuối kỳ.
1.2.4.2. Chi phí quản lý doanh nghiệp.
Chi phí quản lý doanh nghiệp (CPQLDN) là những chi phí cho việc quản lý kinh
doanh, quản lý hành chính và phục vụ chung khác liên quan đến hoạt động của cả
doanh nghiệp.
Theo quy định hiện hành, chi phí QLDN đợc chia thành các loại sau:
(1) Chi phí nhân viên quản lý: Gồm tiền lơng, phụ cấp phải trả cho ban giám đốc,
nhân viên các phòng ban của doanh nghiệp và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ
trên tiền lơng nhân viên quản lý theo quy định.
(2) Chi phí vật liệu quản lý: Bao gồm các loại vật liệu, nhiên liệu xuất dùng cho
hoạt động quản lý của ban giám đốc và các phòng ban của doanh nghiệp; cho sửa
chữa TSCĐ dùng chung của doanh nghiệp.
(3) Chi phí đồ dùng văn phòng: Chi phí về đồ dùng, dụng cụ văn phòng dùng cho
công tác quản lý chung của doanh nghiệp.
(4) Chi phí khấu hao TSCĐ: Khấu hao của những TSCĐ dùng chung cho doanh
nghiệp nh văn phòng làm việc, kho tàng, vật kiến trúc
(5) Thuế, phí, lệ phí: Bao gồm thuế nhà đất, thuế môn bài và các khoản phí, lệ phí
giao thông, cầu phà
(6) Chi phí dự phòng: Các khoản trích dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng
phải thu khó đòi.
(7) Chi phí dịch vụ mua ngoài: Các khoản chi về dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài
nh tiền điện, nớc, thuê sửa chữa TSCĐ dùng chung của doanh nghiệp.
(8) Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm các khoản chi bằng tiền ngoài các khoản đã
kể trên nh chi hội nghị, tiếp khách, chi công tác phí, chi đào tạo cán bộ, chi trả lãi
tiền vay cho SXKD
CPQLDN là một khoản chi phí gián tiếp do đó cần đợc lập dự toán và quản lý chi
tiêu tiết kiệm, hợp lý. Đây là loại chi phí liên quan đến mọi hoạt động trong
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét