Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quy trinh sản xuất và xuất khẩu tại công ty sản xuất và xuất khẩu Prosimex

5
Bắc và Trung Mỹ.
Nam Mỹ.
Châu Phi.
Châu Á - Thái Bình Dương.
Phân bổ sản lượng cà phê thế giới theo các khu vực này có thể được tóm
tắt như sau: Châu Mỹ sản xuất ra 60 - 70 % sản lượng cà phê thế giới, tức là
khoảng gần 4 triệu tấn cà phê nhân. Châu Phi sản xuất ra 20 - 22% khoảng hơn 1
triệu tấn. Châu á hàng năm sản xuất khoảng 70 ngàn tấn cà phê chiếm 12% sản
lượng tồn thế giới, sản lượng cà phê hàng năm biến động thất thường nhưng
theo chiều hướng ngày càng tăng. Thập kỷ 70 sản lượng trung bình đạt 4,5 triệu
tấn trên một năm; thập kỷ 80 tăng nên 5,5 triệu tấn trong một năm ; Sang thập
kỷ 90 con số đã là 6 triệu tấn một năm.
Biểu đồ dưới đây sẽ cho chúng ta thấy tình hình sản xuất cà phê trên thế
giới theo hai loại cà phê chủ yếu Arabica và Robusta trong những vụ vừa qua
như sau:

0
100
200
300
400
500
89/90 90/91 91/92 92/93 93/94 94/95 95/96 96/97 97/98
BiĨu ®å 1: S¶n l­ỵng cµ phª thÕ giíi
Arabica Robusta

Sự cách biệt về sản lượng giữa hai loại cà phê vẫn theo xu hướng ngày
càng tăng. Tuy chưa có đột biến nào qua các vụ, nhưng theo dự báo của tổ chức
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
cà phê quốc tế sản lượng Arabica vụ 98/99 sẽ tăng hơn 16% lên 4,2 triệu tấn.
Sản lượng Robusta cũng sẽ tăng nhưng chậm hơn. Điều này hồn tồn phù hợp
với u cầu từ phía thị trường về chất lượng. Cũng theo tổ chức cà phê quốc tế
thì sản lượng cà phê thế giới vụ 98/99 sẽ lên tới 6,3 triệu tấn so với 5,5 triệu tấn
vụ 97/98. Sản lượng của các nước sản xuất lớn đều tăng. Nhưng những dự báo
và ước tính này còn có thể thay đổi do tình hình thời tiết có thể xấu đi .
3. Tình hình tiêu thụ và xuất khẩu cà phê thế giới
3.1. Tiêu thụ
Nhu cầu tiêu thụ cà phê rất lớn. Hàng năm, lượng tiêu thụ trên thế giới
ước tính vào khoảng 94,5 triệu bao cà phê nhân (khoảng 5,6 triệu tấn). Có thể
chia các nước tiêu dùng cà phê thành bốn nhóm chính theo khu vực địa lý như
sau :
Nhóm các nước Tây Bắc Âu và Nam Âu .
Nhóm các nước Bắc Mỹ: Trong đó thị trường Mỹ là lớn nhất với nhu cầu
hàng năm khoảng 4 kg/người/năm:
Nhóm các nước Châu Á - Thái Bình Dương: Trong đó hai thị trường tiêu
biểu là Hàn Quốc và Nhật Bản .
Nhóm các nước Đơng Âu và Nga: Đây là những thị trường mới nổi rất
tiềm năng với sản phẩm cà phê.
Trong những năm qua, mức tăng trưởng nhu cầu bình qn của các thị
trường này khá ổn định ở mức 2% năm. Thị trường Châu Âu và Bắc Mỹ có xu
hướng bão hồ, trong khi các thị trường chính trị tại Châu Á - Thái Bình Dương,
như Nhật Bản và Hàn Quốc, bị ảnh hưởng bởi cơn bão tài chính tiền tệ năm
1997 nên nhu cầu giảm và có khả năng chuyển một phần sang tiêu dùng những
loại đồ uống khác chất lượng thấp hơn. Để giải quyết các vấn đề này người ta
đang hướng sự quan tâm hơn nữa vào các thị trường tương lai như: Nga, Đơng
Âu, Trung Quốc. Các thị trường này có dân số đơng, thu nhập tăng nhanh và
hiện tại chưa tiêu dùng nhiều loại đồ uống này.
3.2. Xuất khẩu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Trong số hơn 80 thành viên của tổ chức cà phê quốc tế (ICO), có tới hơn
40 nước xuất khẩu cà phê. Các nước này có thể vừa trồng vừa xuất khẩu hoặc
chỉ kinh doanh cà phê xuất khẩu. Tuy nhiên các nước sản xuất cà phê lớn trên
thế giới đều là những nước vừa sản xuất vừa xuất khẩu. Điển hình là các nước
như: Brazin, Colombia, Việt Nam, Uganda, Bờ Biển Nga, Ethiopia, ấn Độ, vv
Trong đó Brazin và Colombia là các nước sản xuất và xuất khẩu cà phê Arabica
chủ yếu trên thế giới; các nước còn lại của Châu Á và Châu Phi là các nước xuất
khẩu cà phê Robusta lớn của thế giới .
Trên thực tế, lượng xuất khẩu cà phê hàng năm của các nước chính là
cung trên thị trường cà phê thế giới. Lượng cung này phụ thuộc rất nhiều yếu tố
trong đó sản lượng chỉ là một. Ngồi sản lượng, lượng cung cà phê trên thị
trường thế giới hàng năm còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế của các nước,
chính sách của hiệp hội các nước sản xuất cà phê (ACPC) và tổ chức cà phê
quốc tế (ICO) cũng như biến động nhu cầu giá cả, dự trữ và yếu tố đầu cơ.
Trung bình từ vụ 89/90 đến nay, mỗi vụ, sản lượng xuất khẩu vào khoảng 4,3
đến 4,9 triệu tấn cà phê nhân. Theo dự báo của ICO thì xuất khẩu cà phê thế giới
sẽ tiếp tục biến động xung quanh mức hiện tại, khơng có đột biến nào đáng kể.
4. Giá cả
Giá cà phê phụ thuộc rất nhiều vào tình hình cung cầu cà phê trên thị
trường thế giới. Thơng thường, để xác lập giá xuất khẩu những người xuất khẩu
cà phê thường lấy giá ở những sở giao dịch hàng hố lớn như ở London, New
york, Rotterdam, Asterdam làm chuẩn để xây dựng giá của mình. Giá tại các thị
trường này thường phản ánh tương đối chính xác các biến động cung cầu trong
từng thời điểm xong nó lại mang nặng yếu tố tâm lý nên ln biến động thất
thường.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
0
100000
200000
300000
400000
500000
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 ­íc 1999
BiĨu ®å 2: Gi¸ cµ phª thÕ giíi
Robusta Arabica

Nhìn chung giá cà phê thập kỷ 90 có xu hướng giảm so với thập kỷ 80 và
bến động phức tạp vì nhiều ngun nhân. Ngun nhân cơ bản là cung tăng
nhanh hơn cầu. Và thị trường cà phê trở thành tự do khơng có một cơ chế chặt
chẽ quản lý sau khi hệ thống hạn ngạch của ICO bị huỷ bỏ. Các nước có khả
năng về xuất khẩu cà phê có dịp xuất khẩu ồ ạt ra thị trường làm cho cung tăng
nhanh khi nhu cầu tiêu thụ lại ổn định theo xu hướng giảm. Khủng hoảng tài
chính tiền tệ diễn ra ở Châu á từ khoảng tháng 7 năm 1997 đến cuối năm 1998
cũng là một ngun nhân khác, tuy khơng thuyết phục bằng. Cuộc khủng hoảng
này làm giảm thu nhập có thể sử dụng của người dân ở thị trường các nước
Châu Á: làm thu hẹp diện có việc làm ở Châu Âu và tạo ngòi nổ cho sự mất giá
đồng tiền ở Brazin (Châu Mỹ) dẫn đến giảm thu nhập có thể sử dụng của người
dân do đó gián tiếp gây giảm nhu cầu về những đồ uống đắt tiền trong đó có cà
phê .
Nếu so sánh mặt bằng giá cà phê năm 1985-1986 thì giá cà phê năm
1990-1991 chỉ bằng 40 đến 42%. Giá cà phê còn thấp và giảm hơn vào năm
1992-1993, nhất là từ q II năm 1992 đến q III năm 1993. Sau đó lên dần.
Năm 1997 giá cà phê phục hồi và tăng nhanh như biểu đồ đã chỉ ra : nhưng cuối
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
năm 1997 đầu 1998 giá cà phê giảm liên tục; cuối năm 1998 đầu 1999 thì tình
hình xấu đi và diễn biến phức tạp làm cho các nhà xuất khẩu khơng dám xuất
hoặc chỉ xuất cầm chừng. Hiện tại giá cà phê xuất khẩu vần là một vấn đề chưa
khắc phục được do chưa có một cơ chế hiệu quả quản lý nguồn cung cà phê trên
thị trường thế giới.
SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÍ CỦA CƠNG TY
























GIÁM ĐỐC
Phó giám đốc sản xuất Phó giám đốc kinh doanh
Phòng
Nghiệp
vụ tổng
hợp
Phòng
XNK
2

nghiệp
may
xuất
khẩu
Chi
nhánh
TP
HCM
Đảng,
đồn
thể
Phòng
tổ
chức
hành
chính
Ban
xuất
khẩu
lao
động
Chi
nhánh
Quảng
Ninh
Tổ
dịch
vụ
xuất
khẩu
Phòng
tài
chính
kế
tốn
Phòng
XNK 1
Phòng
XNK 3
Phòng
XNK 4
Phòng
XNK 5
Chi
nhánh
Hải
Phòng
Liên
phòng
Hantex
Văn
phòng
tại Hoa

Văn
phòng
tại
CHLB
Đức
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
II. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT
NAM
1. Vị trí của cây cà phê ở Việt Nam
Trong nhiều năm gần đây, cà phê là một mặt hàng nơng nghiệp xuất khẩu
quan trọng của Việt Nam có kim ngạch hàng năm từ 400 đến 600 triệu Đơla Mỹ,
chỉ đứng sau gạo. Khơng chỉ đem về nhiều ngoại tệ cho đất nước, cây cà phê
đang ngày càng giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nước ta. Cụ thể là:
sản xuất chế biến và xuất khẩu cà phê thu hút được nhiều lao động đặc biệt là
lao động trẻ chưa có việc làm. Tính đến năm 1995 đã có 150 đến 200 nghìn
người lao động tham gia trong lĩnh vực sản xuất cà phê .
- Cây cà phê có thể trồng thay thế cây thuốc phiện ở những khu vực trước
kia trồng cây thuốc phiện như khu vực các tỉnh miền núi phía bắc .
- Sản xuất và xuất khẩu cà phê làm cho quan hệ kinh tế thương mại giữa
Việt Nam và các nước được củng cố và phát triển .
Hiện nay cà phê Việt Nam đã xuất hiện trên khắp các châu lục từ Bắc Mỹ,
Tây Âu, Đơng Âu đến Úc, Nam Á, Bắc Á.vv Chất lượng cà phê ở Việt Nam
cũng được thị trường quốc tế thừa nhận và ưa chuộng. Đảng và nhà nước ta ln
coi cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nơng nghiệp nói
riêng và của nước ta nói chung lên đã dành cho cây cà phê sự quan tâm đặc biệt.
Từ sau giải phóng, diện tích cà phê liên tục tăng từ vài chục nghìn hecta nay đã
lên tới gần 300 nghìn hecta cho năng suất cao tạo chỗ vững chắc cho xuất khẩu
cà phê tăng trưởng. Tiềm năng của cây cà phê Việt Nam rất lớn và phần lớn còn
đang chờ sự khai thác có hiệu quả cao, do vậy trong thời gian tới nghành cà phê
cần có những giải pháp cụ thể để phát huy tối đa tiềm năng này.
2. Sản xuất
Cây cà phê đã được đưa vào Việt Nam từ rất lâu và được trồng đại trà từ
năm 1888. Do điều kiện khí hậu và đất đai thích hợp nên cây được phát triển
trên quy mơ rộng và cho hạt chất lượng tốt khơng kém sản phẩm của những
nước sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn trên thị trường. Tuy nhiên phải đến sau
giải phóng ngành cà phê Việt Nam mới đi vào thời kỳ phát triển, sản lượng sản
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
xuất ra chủ yếu để xuất khẩu. Theo số liệu của tổng cục thống kê và nghành cà
phê thì sản xuất cà phê của ta mỗi năm một tăng:
Bảng 1: Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam qua các giai đoạn

Niên vụ Diện tích Sản lượng sản xuất
1991 - 1992 135.000 101.000
1995 - 1996 225.000 245.270
1997 - 1998 295.000 410.530
(Nguồn: Tạp chí thương mại số tháng 8/1998.)
Năng suất cà phê bình qn cả nước cũng tăng liên tục. Nếu năm 1990 đạt
1000 kg nhân /ha thì năm 1994 là 1300, năm 1997 là 1500. Cho đến năm 1995,
Việt Nam đã đứng thứ 7 trong số các nước sản xuất cà phê nhiều nhất trên thế
giới và đứng thứ hai trên thế giới về sản xuất cà phê Robusta .
Cũng trong những năm qua, cà phê khơng chỉ được mở rộng diện tích ở
Tây Ngun, Đơng Nam Bộ vv là những vùng chủ yếu trồng cà phê Robusta
,mà còn phát triển khá mạnh cà phê Arabicarơ các tỉnh biên miền núi phía Bắc
như Sơn La, Lai Châu, n Bái, Hà Giang, Tun Quang vv Nhằm nâng cao
tỷ trọng xuất khẩu cà phê giống ngon, giá cao.
Những vùng này có điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu Phù hợp với cà phê
Arabica nên tương lai cho năng xuất cao. Đây là tín hiệu tốt lành cho ngành cà
phê Việt Nam trong xu thế chuộng chất lượng của cà phê thế giới .
3. Xuất khẩu
Do sản xuất tăng nhanh nên xuất khẩu cà phê của ta hàng năm cũng tăng
nhanh cả về số lượng cũng như kim ngạch. Giá xuất khẩu trung bình hàng năm
cũng tăng đáng kể mặc dù vẫn bị ảnh hưởng rất nhiều từ những biến động trên
thị trường cà phê thế giới. Số ngoại tệ thu về hàng năm đã tăng lên tới hàng trăm
triệu đơla mỹ, riêng vụ 97/98 vừa qua con số kim ngạch đã là gần 600 triệu và sẽ
còn cao hơn nữa trong thời gian gần đây.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
Bảng 2: Sản lượng, kim ngạch cà phê xuất khẩu của Việt Nam những
năm 90

NIÊN VỤ
SỐ LƯỢNG XUẤT
KHẨU (TẤN)
TỐC ĐỘ TĂNG
TRƯỞNG
KIM NGẠCH
(TRIỆU USD)
TỐC ĐỘ TĂNG KIM
NGẠCH SO VỚI VỤ
TRƯỚC
1993 - 1994 158.520 21,5% 225,7 51.3%
1994 - 1995 212.038 33,7% 560,3 147%
1995 - 1996 233.000 9,8% 422 -24,6%
1996 - 1997 346.000 48,5% 414 -2%
1997 -1998 395.419 12,5% 599 45%
(Nguồn: Báo cáo tình hình cà phê xuất khẩu niên vụ 97/98 của bộ thương mại.)
Tuy nhiên, qua số liệu trong bảng 2 ta có thể thấy trừ niên vụ 94/95 kim
ngạch xuất khẩu cà phê của ta tăng vọt 147% lên hơn 560 triệu Đơla Mỹ so với
hơn 200 triệu Đơla Mỹ của vụ trước đó, còn lại các niên vụ tiếp sau kim ngạch
xuất khẩu của ta khơng những khơng tăng mà còn giảm mạnh trong khi sản
lượng xuất khẩu thì vẫn tăng đều đặn. Ngun nhân của hiện tượng này phần lớn
là do cung cầu trên thị trường thế giới mất cân bằng dẫn tới giá cả giảm sút
nhưng cũng một phần do chất lượng cà phê xuất khẩu của ta chưa đáp ứng được
u cầu của khách hàng. Thậm chí bao cà phê của Việt Nam xuất sang các nước
trong nhiều trường hợp còn có tạp chất như đinh và nút chai lẫn bên trong.
Chính vì vậy mặc dù đã có nhiều tiến triển tốt nhưng vẫn còn một khoảng cách
khơng nhỏ giữa giá xuất cà phê của chúng ta và giá trung bình của cùng loại cà
phê trên thị trường thế giới.
Theo dự đốn, vụ cà phê 98/99 sản lượng sản xuất và sản lượng xuất khẩu
của Việt Nam giảm do hạn hán ở Tây Ngun và Đơng Nam Bộ kéo dài cộng
với mưa ở nhiều nơi đặc biệt là Đắk Lắk. Thời tiết xấu cũng sẽ làm giảm chất
lượng cà phê xuất khẩu của ta nên có thể ảnh hưởng tới yếu tố giá cà phê cũng
như uy tín của cà phê Việt Nam trên thị trường.
Về thị trường tiêu thụ, tính đến vụ cà phê 97/98 thị trường cà phê của Việt
Nam đã được mở rộng tới 52 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Những nước
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
nhập khẩu số lượng lớn là Mỹ, Canada, các nước Tây Âu và các nước Nhật Bản,
Hàn Quốc ở Châu Á. Tuy nhiên, để cây cà phê xứng đáng với những triển vọng
từ phía thị trường bên ngồi, chúng ta cũng cần quan tâm tới việc ổn định thị
trường trong nước, khắc phục tính manh mún, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa
người sản xuất, người xuất khẩu và các thành phần có liên quan nhằm từng bước
xây dựng chiến lược hợp lý và lâu dài cho cây cà phê xuất khẩu.
























THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH KINH DOANH CÀ PHÊ XUẤT KHẨU TẠI
CƠNG TY PROSIMEX

I. GIỚI THIỆU TĨM LƯỢC VỀ CƠNG TY
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Cơng ty sản xuất kinh doanh
xuất nhập khẩu PROSIMEX
Cơng ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu PROSIMEX là một doanh
nghiệp nhà nước, có tư cách pháp nhân, hạch tốn kinh doanh độc lập được nhà
nước giao vốn, đất đai và các nguồn lực khá. Doanh nghiệp có nhiệm vụ sử
dụng có hiệu quả, bảo tồn và phát triển vốn được giao, có quyền và nghĩa vụ
với nhà nước, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh trong phạm vi vốn
do nhà nước giao.
Cơng ty ra đời và phát triển hồn tồn dựa vào chính khả năng và sự cố
gắng của mình. Tiền thân của cơng ty là cơ sở sản xuất tăng gia, chăn ni của
văn phòng bộ kinh tế đối ngoại từ những năm 1970, nhằm để cải thiện đời sống
cho cán bộ cơng nhân viên. Theo quyết định 778/KTĐN/TCCB ngày
25/11/1989 của Bộ kinh tế đối ngoại (nay thuộc bộ thương mại), xí nghiệp gia
cơng hàng xuất khẩu trực thuộc văn phòng Bộ kinh tế đối ngoại ra đời. Ngày
24/03/1993, nghị định số 388/CP của chính phủ và kèm theo quyết định số
448/M/TCCB của Bộ Thương Mại, xí nghiệp gia cơng sản xuất đổi tên thành
cơng ty sản xuất gia cơng hàng xuất khẩu và nay là cơng ty sản xuất kinh doanh
xuất nhập khẩu.
Cơ sở vật chất ban đầu của cơng ty rất thiếu thốn. Tổng số vốn ban đầu
chỉ khoảng 3.785 triệu đồng, mà chủ yếu là TSCĐ (ơtơ, máy sản xuất đinh, nhà
xưởng và đât đai). Năm 1990, năm hoạt động đầu tiên, kim ngạch xuất khẩu đạt
3,214 triệu USD trong đó xuất khẩu đạt 1,786 triệu USD và nhập khẩu đạt
1,428 triệu USD. Đến năm 1998, tổng kim ngạch xuất khẩu của Cơng ty đạt tới
74,120 triệu USD trong đó xuất khẩu đạt 43,033 triệu USD, nhập khẩu đạt
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét