Phân bố nguồn lao động hợp lý phải phối hợp kết hợp hài hoà nhiều biện pháp
phân bổ theo từng lĩnh vực sản xuất, từng ngành, từng nội bộ ngành kinh tế, từng
vùng lãnh thổ trong phạm vi quốc gia. Một xu hớng có tính quy luật là lực lợng lao
động đợc phân bổ và lĩnh vực sản xuất vật chất ngày càng giảm và khi nền kinh tế
phát triển thì nhu cầu về hởng thụ văn hoá tinh thần ngày càng cao và đây là nhu cầu
vô hạn.
Đào tạo lao động, nâng cao trình độ lành nghề, trình độ chuyên môn kỹ
thuật, chăm sóc sức khoẻ cho ngời lao động, nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo và tổ
chức sản xuât. Trong lĩnh vực không sản xuất vật chất phân bổ tỷ trọng lớn lao động
vào các ngành nghiên cứu khoa học, y tế giáo dục, văn hoá thể thao, giảm lao động
trong quản lý hành chính, lao động quản lý.Trong lĩnh vực sản xuất vật chất tăng tỷ
trọng lao động, giảm tỷ trong lao động trong ngành nông nghiệp, bởi vì tăng năng
suất lao động trong các ngành trên là thuận lợi hơn nó tác động trở lại ngành nông
nghiệp.
2. Vai trò của nguồn lao động nông thôn.
Lao động là một trong ba nhân tố của bất cứ một quá trình sản xuất nào và
trong thời đại ngày nay khi mà các nguồn lực trở nên khan hiếm thì nó đợc xem xét
là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, vai trò của nguồn lao động nói
chung và nguồn lao động nông thôn nói riêng là rất quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế đất nớc.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nớc ta đang thực hiện CNH - HĐH đất
nớc trong đó CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn đợc đặc biệt quan tâm. Vì vậy lao
động nông thôn có vai trò hết sức quan trọng nó đợc thể hiện qua các mặt sau:
a. Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình phát triển các ngành
trong nền kinh tế quốc dân.
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, nguồn lực trong nông
nghiệp có số lợng lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động xã hội. Song,
5
cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá, nguồn nhân lực trong nông
nghiệp vận động theo xu hớng giảm xuống cả tơng đối và tuyệt đối. Quá trình biến
đổi đó diễn ra theo hai giai đoạn sau:
- Giai đoạn đầu: diễn ra khi đất nớc bắt đầu công nghiệp hoá, nông nghiệp
chuyển sang sản xuất hàng hoá, năng suất lao động nông nghiệp đợc giải phóng trở
nên d thừa và đợc các ngành khác thu hút, sử dụng vào hoạt động sản xuất- dịch vụ.
Nhng do tốc độ tăng tự nhiên của lao động trong khu vực công nghiệp còn lớn hơn
tốc độ thu hút lao động d thừa từ nông nghiệp, do đó ở thời kỳ này tỷ trọng lao động
nông nghiệp mới giảm tơng đối, số lợng lao động tuyệt đối còn tăng lên. Giai đoạn
này dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế của đất nớc
quyết định. Chúng ta có thể nhìn thấy hiện tợng này ở Việt Nam hiện nay đó là hiện
tợng có nhiều nông dân bỏ ruộng và đi làm các việc phi nông nghiệp khác hoặc đi
làm thuê với thu nhập cao hơn là làm nông nghiệp.
- Giai đoạn thứ hai: nền kinh tế đã phát triển ở trình độ cao, năng suất lao động
nông nghiệp tăng nhanh và năng suất lao động xã hội đạt trình độ cao. Số lao động
dôi ra do nông nghiệp giải phóng đã đợc ngành khác thu hút hết. Vì thế giai đoạn này
số lợng lao động ở nông thôn giảm cả tơng đối và tuyệt đối. Chúng ta đang trong quá
trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và chủ trơng công nghiệp hoá hiện đại hoá nông
thôn, hi vọng sẽ nâng cao đợc năng suất lao động ở nông thôn, từ đó sẽ từng bớc rút
bớt đợc lao động ở nông thôn để tham gia vào các ngành sản xuất khác.
b. Nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất lơng thực thực phẩm.
Nớc ta là một nớc có truyền thống nông nghiệp lâu đời dân số sông chủ yếu
bằng nghề nông. Vì vậy, nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất nông
nghiệp là rất đông đảo. Cùng với sự đi lên của nền kinh tế và sự gia tăng về dân số thì
nhu cầu về lơng thực thực phẩm ngày càng gia tăng.
Việc sản xuất lơng thực thực phẩm chỉ có thể đạt đợc trong ngành nông nghiệp
và sức lao động để tạo ra lơng thực, thực phẩm là do nguồn lao động nông thôn cung
cấp.
6
Nền kinh tế phát triển gắn với sự phát triển của quá trình đô thị hoá, thu nhập
của ngời dân tăng lên đòi hỏi khối lợng lơng thực, thực phẩm ngày càng lớn và yêu
cầu về chất lợng cũng ngày càng cao. Để có thể đáp ứng đủ về số lợng và đáp ứng
yêu cầu về chất lợng thì nguồn lao động nông thôn phải đợc nâng cao về trình độ tay
nghề và kinh nghiệm sản xuất
Nh chúng ta đã biết vào những năm 1980 của thế kỷ trớc hàng năm chúng ta
phải nhập khẩu hàng triệu tấn lơng thực, và trong những năm đó bình quân lơng thực
đầu ngời của chúng ta chỉ đạt 268,2 kg/ngời/năm. Nhng do chất đó chất lợng nguồn
lao động nông thôn ngày càng đợc nâng cao trong những năm sau đó, đặc biệt trong
thời gian gần đây nh : số lợng, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề, học vấn của
ngời lao động ngày càng đợc nâng lên. Nên năng suất và sản lợng lơng thực tăng
nhanh cả về số lợng và chất lợng. Không những cung cấp lơng thực, thực phẩm ổn
định cho nhu cầu trong nớc mà hằng năm chúng ta đã xuất khẩu nông sản, thu đợc
ngoại tệ đáng kể cho đất nớc trong thời gian qua đã tạo điều kiện vật chất cho quá
trình CNH - HĐH đất nớc. Để việc cung cấp lơng thực, thực phẩm ổn định và chất l-
ợng không ngừng đợc nâng cao thì nguồn lao động nông thôn đóng vai trò hết sức
quan trọng.
c. Nguồn lao động nông thôn tham gia vào quá trình sản xuất nguyên liệu
cho công nghiệp chế biến Nông - Lâm - Thuỷ sản .
Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với các yếu tố đầu vào là các sản
phẩm mà ngời lao động nông thôn làm ra. Trong thời kỳ CNH - HĐH thì phát triển
công nghiệp chế biến là rất quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
nông nghiệp.
d. Lao động nông thôn là thị trờng tiêu thụ sản phẩm của các ngành khác.
Lao động nông thôn là thị trờng tiêu thụ sản phẩm rộng lớn của các ngành khác và
của chính bản thân ngành nông nghiệp. Tại thời điểm 01/07/2003, lực lợng lao động
của cả nớc là 42.128.343 ngời. Trong đố, khu vực nông thôn có 31.941.500 lao động
chiếm 75,82% lợc lợng lao động toàn quốc. Đến thời điểm 01/7/2004, lực lợng lao
7
động cả nớc có 43,255 triệu lao động tăng gần 2.7%so với thời điểm 01/07/2003.
Trong đó lực lợng lao động nông thôn có 32,706 triệu ngời, chiếm 75,6% lực lợng
lao động cả nớc. Với dân số trên 30 triệu thì có thể nói nông thôn là một thị trờng
tiêu thụ rộng lớn cần phải đợc khai thác triệt để.
3. Đặc điểm của nguồn lao động ở nông thôn
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có đặc điểm khác với đặc điểm của các
ngành khác. Vì vậy, lao động nông thôn cũng có những đặc điểm khác với lao động
ở các ngành kinh tế khác, cụ thể nó biểu hiện ở các mặt sau:
a. Lao động nông thôn mang tính thời vụ.
Đây là đặc điểm dặc thù không thể xáo bỏ đợc của lao động nông thôn.
Nguyên nhân của nét đặc thù trên là do: đối tợng của sản xuấ nông nghiệp là cây
trồng vật nuôi chúng là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và
tái sản xuất kinh tế đan xen nhau.
Cùng một loại cây trồng vật nuôi ở những vùng khác nhau có điều kiện tự
nhiên khác nhau chúng cũng có quá trình sinh trởng và phát triển khác nhau. Tính
thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xáo bỏ đợc trong quá trình sản xuất
chúng ta chỉ có thể tìm cách làm giảm tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp. Từ đó
đặt ra vấ đề cho việc sử dụng các yếu tố đầu vào của qúa trình sản xuất, đặc biệt là
vấn đề sử dụng lao động nông thôn một cách hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng.
b. Nguồn lao động nông thôn tăng về số lợng.
Dân số đợc coi là yếu tố cơ bản quyết định số lợng lao động: qui mô và cơ cấu
của dân số có ý nghĩa quyết định đến qui mô cơ cấu của nguồn lao động.
Tính đến ngày 01/07/2002, dân số nông thôn có trên 60 (triệu ngời), chiếm
75,1% dân số cả nớc. Trong đó có 30.984 (ngàn ngời) thuộc lực lợng lao động thờng
xuyên, chiếm 76,1% tổng lực lợng lao động thờng xuyên của cả nớc. Trong đó trên
76% lao động trong khu vực sản xuất nông - lâm - nghiệp. Do sự phát triển của quá
8
trình đô thị hoá và sự thu hẹp dần về tốc độ tăng tự nhiên của dân số giữa nông thôn
và thành thị nên tỷ lệ dân số cũng nh lực lợng lao động so với cả nớc ngày càng
giảm. Mặc dù vậy, qui mô dân số và nguồn lao động ở nông thôn đến năm 2005 vẫn
tiếp tục gia tăng với tốc độ khá cao.
Dự báo đến năm 2005 lực lợng lao động thờng xuyên của cả nớc khoảng 44,6
triệu ngời (bình quân trong năm từ 2000 đến 2005 mỗi năm tăng thêm khoảng 1,2
triệu lao động) và tỷ lệ lao động nông thôn sẽ giảm từ 77,4% (năm 2002 xuống còn
khoảng 74% ở năm 2005) bình quân hàng năm tỷ lệ này giảm khoảng 0,7%, năm
2000 - 2002 giảm bình quân hàng năm về tỷ lệ này là 0,65% thì lực lợng lao động
nông thôn Việt Nam năm 2005 sẽ vào khoảng 33 (triệu ngời).
c.Chất lợng nguồn lao động nông thôn cha cao.
Chất lợng của ngời lao động đợc đánh gía qua trình độ học vấn, chuyên môn
kỹ thuật và sức khoẻ.
- Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật: nguồn lao động của nớc ta đông
về số lợng nhng sự phát triển của nguồn nhân lực nớc ta còn nhiều hạn chế, nhiều
mặt cha đáp ứng đợc yêu cầu khắt khe trong bối cảnh đất nớc đang hội nhập kinh tế
quốc tế đặc biệt chúng ta đang chuẩn bị gia nhập tổ chức WTO trong thời gian tới
trong đó nông nghiệp đợc xem là một trong những thế mạnh.
Riêng lao động nông thôn chiếm hơn 3/4 lao động của cả nớc. Tuy vậy nguồn
nhân lực nông nghiệp, nông thôn cha phát huy hết tiềm năng do trình độ chuyên
môn của lao động thấp kỹ thuật lạc hậu. Do đó, để có một nguồn lao động với trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao thì nhà nớc cần phải có chính sách đào tạo bồi dỡng để
có nguồn nhân lực đủ trình độ để phát triển đất nớc.
- Về sức khoẻ.
Sức khoẻ của ngời lao động nó liên quan đến lợng calo tối thiểu cung cấp cho
cơ thể mỗi ngày, môi trớng sống, môi trờng làm việc,vv Nhìn chung lao động nớc
ta do thu nhập thấp nên dẫn đến các nhu cầu thiết yếu hàng ngày cha đáp ứng đợc
9
một cách đầy đủ. Vì vậy, sức khẻo của nguồn lao động cả nớc nói chung và của nông
thôn nói riêng là cha tốt.
II. Các nhân tố ảnh hởng đến nguồn lao động ở nông thôn
1. Các nhân tố ảnh hởng đến số lợng lao động
a. Dân số.
Dân số đợc coi là yếu tố cơ bản quyết định số lợng lao động : qui mô và cơ cấu
của dân số có ý nghĩa quyết định đến qui mô và cơ cấu của nguồn lao động. Các yếu
tố cơ bản ảnh hởng đến sự biến động của dân số là: phong tục, tập quán của từng nớc,
trình độ phát triển kinh tế, mức độ chăm sóc y tế và chính sách của từng nớc đối với
vấn đề khuyến khích hoặc hạn chế sinh đẻ. Từ đó nó ảnh hởng đến qui mô của dân
số, đến nguồn lao động. Tình hình tăng dân số trên thế giới hiện nay có sự khác nhau
giữa các nớc. Nhìn chung các nớc phát triển có mức sống cao thì tỷ lệ tăng dân số
thấp: ngợc lại ở những nớc kém phát triển thì tỷ lệ tăng dân số cao. Tỷ lệ tăng dân số
của thế giới hiện nay là 1,8%, ở các nớc Châu á là 2 - 3% và các nớc Châu Phi là 3 -
4%. Còn ở Việt Nam con số này là 1.47% ( năm 2003) và 1.44% ( năm 2004). Hiện
nay 3/4 dân số sống ở các nớc đang phát triển, ở đó dân số tăng nhanh trong khi đó
phát triển kinh tế tăng chậm, làm cho mức sống của dân c không tăng lên đợc và tạo
ra áp lực lớn trong việc giải quyết việc làm. Do đó kế hoạch hoá dân số đi đôi với
phát triển kinh tế là vấn đề quan tâm của các nớc đang phát triển trong đó có Việt
Nam chúng ta. Đặc biệt ở nông thôn hiện nay tỷ lệ tăng dân số vẫn cao hơn thành thị
và tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 ở nông thôn cao gấp đôi so với thành thị ( 24% so với
13%)
b.Tỷ lệ tham gia lực lợng lao động.
Tỷ lệ tham gia lực lợng lao động là phần trăm của dân số trong độ tuổi lao
động tham gia lực lợng lao động trong tổng số nguồn nhân lực. Nhân tố cơ bản tác
động đến tỷ lệ tham gia lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động. Nhng do
10
đặc điểm của lao động nông thôn bao gồm cả những ngời trên và dới độ tuổi lao
động vẫn thích hợp với một số công việc và vẫn phát huy đợc khả năng của họ.
c. Thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp.
Thất nghiệp là hiện tợng những ngời trong độ tuổi lao động có khả năng lao
động, đang không có việc làm nhng đang tích cực tìm việc làm tại thời điểm điều tra.
Số ngời không có việc làm sẽ ảnh hởng đến số ngời làm việc và ảnh hởng đến kết quả
hoạt động của nền kinh tế.Thất nghiệp là vấn đề trung tâm của mọi quốc gia vì nó
không chỉ tác động về mặt kinh tế mà nó còn ảnh hởng đến vấn đề xã hội.
Theo cách tính thông thờng tỷ lệ thất nghiệp tính bằng tỷ lệ % giữa tổng số ng-
ời thất nghiệp với tổng số nguồn lao động. Nhng đối với các nớc đang phát triển tỷ lệ
thất nghiệp này cha phản ánh đúng sự thực về nguồn lao động cha sử dụng hết. Trong
thống kê thất nghiệp ở các nớc đang phát triển, số ngời nghèo thờng chiếm tỷ lệ rất
nhỏ và khi họ thất nghiệp thì họ cố gắng không để thời gian kéo dài. Bởi vì họ không
có các nguồn lực dự trữ, họ phải chấp nhận mọi việc nếu có. Do đó ở các nớc đang
phát triển biểu hiện tình trạng cha sử dụng hết lao động ngời ta sử dụng khái niệm
thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp trá hình. Thất nghiệp trá hình bao gồm bán thất
nghiệp và thất nghiệp vô hình. Tình trạng này xảy ra phổ biến ở nông thôn của các n-
ớc đang phát triển cũng nh ở nông thôn Việt nam.
d. Dòng di chuyển nông thôn thành thị.
Trớc năm 1986 dòng di chuyển nông thôn - đô thị đặc biệt là đô thị lớn đợc hạn chế
tới mức tối đa và chủ yếu dới dạng phân công công tác. Tuy nhiên, cùng với sự thành
công của chính sách khoán trong nông nghiệp, việc xoá bỏ chế độ bao cấp trong
phân phối, các chính sách cải cách trong khu vực nông nghịêp nông thôn, sự đô thị
hoá và sự nới lỏng của chế độ hộ khẩu đã tạo nên những dòng di chuyển lao động từ
nông thôn ra thành phố, thị xã, thị trấn làm thuê dài ngày hoặc chỉ tìm việc làm trong
những tháng nông nhàn để có thu nhập cao hơn. Tính chung trong toàn quốc, di
11
dân nông thôn, đô thị có cờng độ khoảng 150 - 200.000 ngời trong 1 năm. Các đô thị
lớn có tỷ lệ di dân cao là Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh, bình quân mỗi năm có
khoảng từ 55.000-80.000 ngời di c, chiếm khoảng 40-45% trong tổng số dân tăng lên
hàng năm của thành phố này. Điều đó đã dẫn tới số lao động ở nông thôn bị giảm sút
đồng thời lao động ở thành thị tăng nhanh. Mặt khác, do không có trính độ chuyên
môn kỹ thuật nên số lao động này cũng chỉ làm những công việc nặng nhọc, bán
hàng rong ở thành phố nên thu nhập không cao nhng cũng giải quyết đợc vấn đề việc
làm trong lúc nông nhàn. tuy nhiên việc lao động nông thôn ra thành phố đông nên
đó cũng chính là gánh nặng cho thành phố về các vấn đề nh môi trờng, an ninh trật
tự. Do đó vấn đề đặt ra là phải tạo việc làm cho ngời lao động nông thôn ngay trên
chính quê hơng của họ, giải quyết việc làm theo xu hớng "ly nông bất ly hơng" tạo
việc làm để tăng thu nhập ngay trên chính quê hơng của họ bằng nhiều biện pháp nh-
: Đa dạng hoá cây trồng vật nuôI, cho ngời nghèo vay vốn với lãi suất u đãi vv
e. Dòng di chuyển lao động ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Đây là hiện tợng những ngời lao động ở nông thôn đi xuất khẩu lao động, đó
là một trong những hớng đi của một số ít ngời chứ không phải là đa số, bởi vì những
ngời có khả năng xuất khẩu lao động ở nông thôn là rất ít và những yêu cầu của nơc
nhập khẩu lao động là khá cao nên dòng di chuyển này rất ít ảnh hởng đến sản xuất
nông nghiệp.
2. Những nhân tố ảnh hởng đến chất lợng lao động ở nông thôn.
Số lợng lao động mới phản ánh đợc một mặt sự đóng góp của lao động vào
phát triển kinh tế. Mặt khác, cần đợc xem xét đến chất lợng nguồn lao động, đó là
yếu tố làm cho lao động có năng suất cao hơn. Chất lợng lao động có thể đợc nâng
cao nhờ giáo dục, đào tạo, nhờ sức khỏe của ngời lao động, nhờ bố trí điều kiện lao
động tốt hơn.
- Giáo dục đợc coi là một dạng quan trọng nhất của sự phát triển tiềm năng
của con ngời theo nhiều nghĩa khác nhau. Yêu cầu chung đối với giáo dục là rất lớn,
nhất là đối với giáo dục phổ thông, con ngời ở mọi nơi đều tin rằng giáo dục rất có
12
ích cho bản thân mình và con cháu họ. Bằng trực giác, mọi ngời có thể thấy mối
quan hệ giữa giáo dục và mức thu nhập. Mặc dù không phải tất cả những ngời, ví dụ
nh đã tốt nghiệp hết cấp III có thu nhập cao hơn những ngời mới tốt nghiệp cấp I, nh-
ng đa số là nh vậy, và mức thu nhập của họ đều cao hơn nhiều. Nhng để đạt đợc trình
độ giáo dục nhất định cần phải chi phí khá nhiều, kể cả chi phí gia đình và chi phí
của quốc gia. Đó chính là khoản đầu t cho con ngời. ở các nớc đang phát triển giáo
dục đợc thực hiện dới nhiều hình thức nhằm không ngừng nâng cao trình độ văn hoá
và chuyên môn kỹ thuật cho mọi ngời. Kết quả giá dục làm tăng lực lợng lao động có
trình độ tạo khả năng thúc đẩy đổi mới công nghệ. Công nghiệp thay đổi càng nhanh
càng thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Vai trò của giáo dục còn đợc đánh giá qua tác động
của nó đối với việc tăng năng suất lao động của mỗi cá nhân nhờ có nâng cao trình
độ và tích luỹ kiến thức.
- Giống nh giáo dục, sức khoẻ làm tăng chất lợng của nguồn nhân lực cả hiện
tại và tơng lai, ngời lao động có sức khoẻ tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực
tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung trong khi đang làm
việc.Việc nuôi dỡng và chăm sóc sức khẻo tốt cho trẻ em sẽ là yếu tố làm tăng năng
suất lao động trong tơng lai, giúp trẻ em phát triển thành những ngời khỏe về thể
chất, lành mạnh về tinh thần. Hơn nữa điều đó còn giúp trẻ em nhanh chóng đạt đợc
những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho sản xuất thông qua giáo dục ở nhà trờng. Những
khoản chi cho sức khỏe còn làm tăng nguồn nhân lực về mặt số lợng bằng việc kéo
dài tuổi lao động. Ngoài yếu tố giáo dục và sức khoẻ, nhân tố ảnh hởng đến năng
suất lao động còn có động lực lao động. Đây là một nhân tố quan trọng trong việc
nâng cao năng suất lao động. Những ngời lao động ở nông thôn đợc xem là cần cù,
chịu thơng, chịu khó do đó ý thức, trách nhiệm lao động của họ là rất tốt.
III. Kinh nghiệm sử dụng lao động của Trung Quốc.
Là một nớc đang phát triển lớn nhất thế giới với dân số quá đông và mức tăng
trởng kinh tế cha cao: sử dụng tốt lao động là một nhiệm vụ rất nặng nề.Trong những
13
thời kỳ khác nhau, chính phủ: Trung Quốc đã đa ra những chính sách khác nhau cho
phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo quyền lợi cho mọi công dân theo hiến pháp và
Luật lao động, đồng thời sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của đất nớc. Hiện nay,
sau nhiều năm củng cố và thử nghiệm, Trung Quốc đã có một cách tổ chức lao động
phù hợp với nền kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa. Về cơ bản những chính sách này
khá thành công và có thể đợc coi là bài học kinh nghiệm quý báu cho các nớc đang
phát triển khác.
Theo số liệu của Bộ bảo trợ xã hội của Trung Quốc, trong 10 tháng đầu năm
2004 trên lãnh thổ Trung Quốc đã giải quyết việc làm cho 7,74 triệu lao động ở
thành phố, hoàn thành 86% chỉ tiêu cả năm đặt ra là 9 triệu ngời. Tính hết quý
III/2004, số ngời đăng ký thất nghiệp ở các thành phố của Trung Quốc là 8,21 triệu
ngời, tỷ lệ thất nghiệp là 4,2%, thấp hơn 0,1% so với cuối năm 2003. Hiện nay, cơ
chế mới về tạo việc làm bao gồm các hình thức: Ngời lao động tự tạo việc làm, thị tr-
ờng điều tiết việc làm, chính quyền xúc tiến việc làm đã bắt đầu hình thành tại
Trung Quốc.
Là một nớc đông dân nhất thế giới, Trung Quốc có lợi thế với nguồn lao động
dồi dào, giá rẻ. Tuy nhiên, trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, lực lợng lao
động đợc sử dụng phảI có những tiêu chuẩn nhất định về giáo dục và tay nghề, đặc
biệt là nhu cầu của các công ty nớc ngoài đối với nguồn lao động nội địa có chuyên
môn nhng ít tốn kém. Do vậy, thông qua các hình thức giáo dục, đào tạo, Trung
Quốc đã thực hiện cấp chứng nhận đủ tiêu chuẩn nghề nghiệp nhằm xây dựng một
đội ngũ lao động có trình độ học vấn, tay nghề cao. Hiện nay, tại các thành phố của
Trung Quốc, hơn 80% số ngời tìm đợc việc làm mới đã tốt nghiệp trung học phổ
thông trở lên hoặc đã qua đào tạo dạy nghề, 45 triệu ngời đợc cấp chứng nhận đủ tiêu
chuẩn nghề nghiệp.
Nhận thức rõ về tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, Chính phủ Trung Quốc
đã đặt mục tiêu giải quyết việc làm cho ngời lao động là một trong những nhiệm vụ
cấp bách nhất.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét