Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Ngô Ngọc Cương
* Vai trò huy động, khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu
kinh doanh của doanh nghiệp và tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất: để
có đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính doanh nghiệp cần phải vạch
ra kế hoạch huy động, lựa chọn và sử dụng nguồn vốn đúng đắn để duy trì, thúc đẩy
sự phát triển quá trình sản xuất kinh doanh. Đây là vấn đề có tính quyết định đến sự
sống còn của doanh nghiệp theo quy luật cạnh tranh “khắc nghiệt” của cơ chế thị
trường.
* Vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh:
thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp được tài chính doanh nghiệp phân phối. Thu
nhập bằng tiền mà doanh nghiệp đạt được trước tiên phải bù đắp các chi phí bỏ ra
trong quá trình sản xuất như: bù đắp hao mòn máy móc thiết bị, trả lương cho người
lao động và mua nguyên nhiên liệu để tiếp tục chu kì sản xuất mới. Đồng thời, thực
hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. Phần còn lại doanh nghiệp dùng hình thành các quỹ
của doanh nghiệp, thực hiện bảo toàn vốn, hoặc trả lợi tức cổ phần (nếu có). Ngoài
ra, người quản lý phải biết vận dụng sáng tạo các chức năng phân phối của tài chính
doanh nghiệp phù hợp với quy luật thì tài chính trở thành đòn bẩy có tác dụng tạo ra
những động lực kinh tế tác động tăng năng suất, kích thích tăng cường tích tụ và thu
hút vốn, thúc đẩy tăng vòng quay vốn, kích thích tiêu dùng xã hội.
* Vai trò là công cụ kiểm tra các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp: Tài chính doanh nghiệp thực hiện kiểm tra đồng tiền thường xuyên, liên tục
thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính. Cụ thể là: chỉ tiêu về kết cấu tài chính- khả
năng thanh toán, chỉ tiêu hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, chỉ tiêu đặc
trưng về khả năng sinh lời….Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép các
doanh nghiệp đưa ra các giải pháp kịp thời để tối ưu hoá tình hình tài chính - kinh
doanh của doanh nghiệp.
1.2. Những vấn đề cơ bản của phân tích tài chính doanh nghiệp:
1.2.1. Khái niệm:
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối
chiếu và so sánh số liệu tài chính hiện hành với quá khứ. Thông qua việc phân tích
này, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, rủi ro cũng như hiệu quả cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
SVTH: Lê Thị Thương - 5- Lớp: 09HQT2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Ngô Ngọc Cương
1.2.2. Ý nghĩa:
Việc phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho nhà quản lý biết được tình hình tài
chính của doanh nghiệp mình. Từ đó, tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình tài
chính và lựa chọn những biện pháp nhằm ổn định, nâng cao hiệu quả hoạt động tài
chính tạo điều kiện thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh phát triển.
Phân tích tình hình tài chính không chỉ cần thiết đối với bản thân doanh nghiệp
mà còn cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài có liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp đến doanh nghiệp như: các nhà đầu tư, ngân hàng, chủ nợ, các nhà cho vay
tín dụng, các công ty bảo hiểm, các cổ đông, cơ quan chính phủ và người lao động,…
để họ có đủ thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc ra quyết định hợp tác với các chủ
doanh nghiệp.
1.2.3. Nhiệm vụ:
Với những ý nghĩa trên nhiệm vụ phân tích tình hình tài chính gồm:
- Đánh giá tình hình sử dụng phân bổ vốn, nguồn vốn có hợp lý hay không?
- Đánh giá hiệu quả việc sử dụng vốn.
- Đánh giá tình hình thanh toán, khả năng thanh toán của xí nghiệp, tình hình
chấp hành các chế độ, chính sách tài chính, tín dụng của Nhà nước.
- Phát hiện khả năng tiềm tàng, đề ra các biện pháp động viên và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn.
1.2.4. Mục đích:
Việc phân tích tình hình tài chính nhằm các mục đích sau:
- Cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực những thông tin bổ ích cho các nhà
đầu tư, các chủ nợ và các nhà sử dụng thông tin tài chính khác để họ có thể đưa ra
các quyết định về đầu tư tín dụng hoặc các quyết định tương tự.
- Cung cấp thông tin giúp các nhà đầu tư, các chủ nợ và các nhà sử dụng khác
đánh giá số lượng thời gian và rủi ro của những khoản thu bằng tiền từ cổ tức hay
tiền lãi.
1.3. Phương pháp phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp.
1.3.1.Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh được thực hiện phổ biến trong phân tích kinh tế nói chung và
phân tích tài chính nói riêng. Quá trình phân tích theo kỹ thuật của phương pháp so
sánh được thực hiện theo 2 hình thức:
SVTH: Lê Thị Thương - 6- Lớp: 09HQT2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Ngô Ngọc Cương
- So sánh theo chiều dọc: là quá trình so sánh nhằm xác định quan hệ tỉ lệ tương
quan giữa các chỉ tiêu từng kì của báo cáo tài chính.
- So sánh theo chiều ngang: là so sánh cả về số tuyệt đối lẫn tương đối của cùng
một chỉ tiêu nhưng ở mỗi mốc thời gian khác nhau.
1.3.2. Phương pháp thay thế liên hoàn:
Là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố lên chỉ tiêu phân
tích bằng cách thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố từ giá trị gốc sang kỳ phân
tích để xác định trị số của chỉ tiêu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu khi chưa biến
đổi của nhân tố cần xác định sẽ tính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó.
Nguyên tắc sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn:
- Xác định đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng lên chỉ tiêu kinh tế phân tích và thể
hiện mối quan hệ các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích bằng một công thức
nhất định.
Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng trong công thức theo trình tự nhất định và chú ý:
+ Nhân tố lượng thay thế trước, nhân tố chất lượng thay thế sau.
+ Nhân tố khối lượng thay thế trước, nhân tố trọng lượng thay thế sau.
+ Nhân tố ban đầu thay thế trước, nhân tố thứ phát thay thế sau.
- Xác định ảnh hưởng của các nhân tố nào thì lấy kết quả tính toán của nhân tố
trước để tính mức độ ảnh hưởng và cố định các nhân tố còn lại.
1.3.3. Phương pháp phân tích các chỉ số chủ yếu:
Phân tích các chỉ số cho biết mối quan hệ của các chỉ số trên báo cáo tài chính,
giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất và khuynh hướng tài chính của doanh nghiệp.
Sau đây là các nhóm chỉ số tài chính chủ yếu được sử dụng phân tích tài chính:
+ Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán.
+ Nhóm chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn.
+ Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động.
+ Nhóm chỉ tiêu về tỷ số sinh lời….
1.3.4. Phương pháp cân đối – liên hệ:
Là cơ sỡ cân bằng về lượng giữa 2 mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh.
Giữa tổng số với tổng số nguồn vốn, giữa nhu cầu với khả năng thanh toán, giữa thu
với chi, chi phí với kết quả và kết quả hoạt động kinh doanh đến các chỉ tiêu phân
SVTH: Lê Thị Thương - 7- Lớp: 09HQT2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Ngô Ngọc Cương
tích….Mối liên hệ cân đối vốn có số lượng của các yếu tố dẫn đến sự cân bằng về
mức biến động (chênh lệch) về số lượng giữa các mặt của các yếu tố và các chỉ tiêu
phân tích
1.4. Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính
1.4.1. Bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách tổng
quát toàn bộ tài sản của doanh nghiệp dưới hình thức tiền tệ và nguồn hình thành tài
sản tại một thời điểm nhất định. Kết cấu bảng cân đối kế toán được chia thành 2
phần: phần tài sản và phần nguồn vốn.
- Phần tài sản: phản ánh giá trị toàn bộ tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm
lập báo cáo và thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp.
- Phần nguồn vốn: phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản hiện có của
doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo.
1.4.2. Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là bảng báo cáo thể hiện thu nhập
và chi phí của doanh nghiệp trong một chu kì hoạt động sản xuất kinh doanh. Bảng
báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình tài chính và kết quả sử
dụng vốn lao động kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
trong kỳ báo cáo.
Nội dung chính của báo cáo này là chi tiết các chỉ tiêu có liên quan đến toàn bộ
kết quả hoạt động kinh doanh: các loại doanh thu, các loại chi phí, các loại lợi nhuận.
1.5. Nội dung phân tích tình hình tài chính của Công ty
1.5.1. Đánh giá khái quát chung về tình hình tài chính của Công ty
- Khi đánh giá khái quát tình hình tài chính ta sử dụng kết hợp hai phương pháp.
Phương pháp phân tích biến động theo thời gian và biến động theo kết cấu.
- Phân tích biến động theo thời gian được thực hiện bằng cách so sánh giá trị
của chỉ tiêu ở các kì khác nhau và so sánh được thực hiện cả về số tuyệt đối lẫn số
tương đối.
- Phương pháp phân tích kết cấu và biến động kết cấu, nhằm đánh giá tỷ trọng
của từng chỉ tiêu trong tổng số và thay đổi về mặt kết cấu.
Phân tích biến động theo thời gian cho thấy sự tăng (giảm) của tài sản, nguồn
vốn, và từng khoản mục tài sản, nguồn vốn nhưng chưa cho ta thấy mối quan hệ giữa
SVTH: Lê Thị Thương - 8- Lớp: 09HQT2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Ngô Ngọc Cương
các khoản mục đó với nhau. Để thấy được mối quan hệ giữa các khoản mục tài sản
trong tổng tài sản hay giữa các khoản mục nguồn vốn trong tổng nguồn vốn nhằm
qua đó đánh giá việc sử dụng vốn, cơ cấu vốn, v v… của doanh nghiệp, phải thực
hiện phân tích kết cấu và biến động kết cấu.
1.5.2. Phân tích tài chính thông qua phân tích các tỷ số tài chính:
1.5.2.1. Các tỉ số về khả năng thanh toán:
* Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành:
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành dùng để đo lường khả năng trả các khoản
nợ ngắn hạn của doanh nghiệp như nợ và các khoản phải trả) bằng các tài sản ngắn
hạn của doanh nghiệp như: tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho). Công thức
như sau:
Khả năng thanh toán hiện hành(CR) = Tài sản lưu động/ Nợ ngắn hạn
* Tỷ số khả năng thanh toán nhanh:
Tỷ số giữa các tài sản dễ quy đổi ra thành tiền mặt trên nợ ngắn hạn , phản ảnh
năng lực thanh toán nhanh các khoản nợ hiện hành bằng số tài sản khả hoán có trong
tay mà không buộc bán đi hàng tồn kho. Tài sản quay vòng nhanh bao gồm: Tiền,
chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu. Do vậy, tỷ số khả năng thanh toán nhanh
được xác định bằng cách lấy tài sản lưu động trừ phần dự trữ (tồn kho) chia cho nợ
ngắn hạn.Công thức như sau:
Khả năng thanh toán nhanh(QR) = (TS lưu động – Tồn kho) / Nợ ngắn hạn
1.5.2.2. Các tỷ số về cơ cấu vốn:
* Tỷ số nợ trên vốn( D/A): Tỷ lệ vốn vay dưới mọi hình thức (có lãi và
không có lãi) trong tổng số vốn được đưa vào sử dụng trong sản xuất kinh doanh của
một doanh nghiệp. Công thức như sau:
D/A= Tổng nợ /Tổng vốn
* Tỷ số nợ dài hạn:
Tỷ lệ vốn vay dài hạn so với vốn chủ sở hữu được đưa vào sản xuất kinh
doanh của một doanh nghiệp. Các số liệu này có thể lấy từ bảng cân đối kế toán của
doanh nghiệp.
Công thức như sau:
Tỷ số nợ dài hạn( D/E)= Vốn vay/ Vốn chủ sở hữu.
SVTH: Lê Thị Thương - 9- Lớp: 09HQT2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Ngô Ngọc Cương
1.5.2.3. Khả năng thanh toán lãi (TIE):
Tỷ lệ đo lường khả năng thanh toán lãi vay từ thu nhập của một doanh nghiệp.
Việc không trả được các khoản lãi này khả năng doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản.
Công thức như sau:
TIE = EBIT/ I
Trong đó: EBIT - Thu nhập trước thuế và lãi vay
I - Lãi vay
1.5.2.4. Các tỷ số về hiệu quả hoạt động:
Các tỉ số hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của
doanh nghiệp. Vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư cho các loại tài sản khác
nhau như tài sản cố định, tài sản lưu động. Chỉ tiêu doanh thu được sử dụng chủ yếu
trong tính toán các tỉ số này để xem xét khả năng hoạt động của doanh nghiệp.
* Kỳ thu tiền bình quân (DOS):
Dùng để đo lường thời gian trung bình thu tiền từ khách hàng mua theo
phương thức tín dụng. Công thức tính như sau:
DOS = (KPT/ DT) * 360
Trong đó: - KPT : Khoản phải thu từ khách hàng
- DT : Doanh thu
* Ngày tồn kho bình quân (V):
Dùng đo lường mức luân chuyển hàng hóa dưới hình thức tồn kho (hay hàng dự
trữ) trong một năm của doanh nghiệp. Công thức như sau:
V = Giá vốn hàng bán/ Giá trị tồn kho bình quân
1.5.2.5. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản:
* Hiệu quả sử dụng tổng tài sản:
Hiệu quả sử dụng của tổng tài sản phản ảnh với một đồng tài sản sử dụng bình
quân trong kỳ đã tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần (hoặc giá trị sản xuất). Công
thức tính:
Hiệu quả sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần/ Tổng tài sản
* Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:
SVTH: Lê Thị Thương - 10- Lớp: 09HQT2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Ngô Ngọc Cương
Hiệu quả sử dụng của tài sản cố định phản ảnh với một đồng nguyên giá (giá trị
còn lại) bình quân của tài sản cố định sử dụng trong kỳ đã tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu thuần (hoặc giá trị sản xuất). Công thức tính:
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần/ Nguyên giá bình quân
Sức sản xuất của tài sản cố định càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng càng cao
và ngược lại.
1.5.2.6. Các tỷ số về khả năng sinh lãi:
Có thể khẳng định rằng, mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp khi đầu tư vốn
vào kinh doanh là để tìm kiếm và thu được nhiều lợi nhuận. Vì lợi nhuận thu được
càng nhiều chứng tỏ khả năng sinh lời của vốn kinh doanh càng cao. Điều đó sẽ phản
ánh chất lượng của nhà quản lý khá tốt, hoạt động đầu tư đúng mục đích và hiệu quả.
Do đó, phân tích khả năng sinh lời của vốn là nhiệm vụ quan trọng nhất của phân tích
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vì nó phản ánh kết quả cuối cùng của quá trình
hoạt động đạt lợi nhuận hay không và khả năng sinh lời như thế nào. Để làm được
điều đó ta phân tích dựa vào các chỉ tiêu sau đây:
* Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm(ROS):
Nếu như các nhóm tỷ số trên đây phản ánh hiệu quả từng hoạt động riêng biệt
của doanh nghiệp thì tỷ số về khả năng sinh lãi phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản
xuất kinh doanh và khả năng quản lý doanh nghiệp. Công thức như sau:
ROS = Thu nhập sau thuế/ Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này phản ánh số lợi nhuận sau thuế trong một trăm đồng doanh thu.
* Suất sinh lời của tổng tài sản (ROA):
Hiệu quả sử dụng và quản lý nguồn tài sản của một doanh nghiệp. Tỷ số ROA
đo lường sức sinh lợi của cả vốn chủ sở hữu và cả của nhà đầu tư. Công thức tính:
ROA = Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản
* Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE):
Hiệu quả vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp để tạo ra thu nhập và lãi cho các
nhà đầu tư . Nói cách khác, nó đo lường thu nhập nguồn vốn chủ sở hữu được đưa
vào sản xuất kinh doanh, hay còn gọi là suất hòa vốn đầu tư cho vốn chủ sỡ hữu.
Công thức như sau:
ROE = Lợi nhuận sau thuế/ Vốn chủ sỡ hữu
SVTH: Lê Thị Thương - 11- Lớp: 09HQT2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Ngô Ngọc Cương
Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của VCSH bình quân và được các nhà đầu
tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp. Tăng mức
doanh lợi VCSH là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lí tài chính
doanh nghiệp.
1.5.3 Hiệu ứng Dupont:
Sử dụng hiệu ứng Dupont trong phân tích tài chính sẽ giúp cho nhà quản trị có
cơ sở để quản lý doanh lợi VCSH (ROE). Vì hiệu ứng Dupont xây dựng được mối
quan hệ để hình thành tỷ suất này, cụ thể như sau:
ROE = LNT/ VCSH = LNT/ DTT = DTT/ ∑TS = ∑TS/ VCSH
Hoặc: ROE = Doanh lợi tiêu thụ x Hệ số sử dụng TS x Tỷ lệ TS / VCSH
Trong đó: - LNT : Lợi nhuận thuần
- DTT : Doanh thu thuần
- VCSH BQ : Vốn chủ sở hữu bình quân
- Tổng TS BQ : Tổng tài sản bình quân
Qua việc phân tích trên ta thấy nhà quản trị có ba chỉ tiêu để quản lý ROE:
- Doanh lợi tiêu thụ (DLTT): phản ánh tỷ trọng lợi nhuận thuần trên doanh
thu thuần của doanh nghiệp. Khi DLTT tăng lên, có nghĩa là doanh nghiệp quản lý
doanh thu và quản lý chi phí có hiệu quả.
- Hệ số sử dụng tài sản (HSSDTS): hay còn gọi là vòng quay tài sản: phản
ánh một đồng tài sản thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu.
- Tỷ lệ TS/VCSH: phản ánh mức độ huy động vốn từ bên ngoài của doanh
nghiệp. Nếu tỷ lệ này tăng, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp tăng vốn huy động từ bên
ngoài.
Vậy, ROE của chủ doanh nghiệp có thể phát triển lên bằng cách sử dụng hiệu
quả tài sản hiện có (gia tăng vòng quay tài sản), tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu,
gia tăng tỷ lệ TS/VCSH.
SVTH: Lê Thị Thương - 12- Lớp: 09HQT2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Ngô Ngọc Cương
CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
TNHH SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI THANH LONG
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH Sản Xuất Thương Mại Thanh Long
2.1.1 Giới thiệu về công ty :
Tên công ty : Công ty TNHH Sản Xuất Thương Mại Thanh Long
Tên tiếng Anh: Thanh Long Manufacture-Trade Company Limited
Địa chỉ công ty: 643/9B ấp Tân Long, Xã Tân Đông Hiệp, Huyện Dĩ An, Tỉnh
Bình Dương- Việt Nam.
Điện thoại: 0650. 2214410
SVTH: Lê Thị Thương - 13- Lớp: 09HQT2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Ngô Ngọc Cương
Giấy phép thành lập số: 0303147562 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Bình Dương
cấp ngày 25/05/2004.
Tại ngân hàng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ACB tại hội sở chính
442 Nguyễn Thị Minh Khai Q3 TPHCM.
Logo của công ty:
2.1.2.Quá trình hình thành và phát triển
Công ty được thành lập theo quyết định số 3487/GP/TLDN ngày 25/05/2006 do
Kế hoạch và đầu tư tỉnh Bình Dương cấp. Đứng đầu công ty là ông Bùi Quang Vinh,
đại diện pháp luật.
Nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng và
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nên Công ty đã thành lập cơ sở sản xuất tại
Bình Dương và văn phòng đại diện tại Thành Phố Hồ Chí Mnh Minh. Ngoài ra, Công
ty còn có các hệ thống Showrom để phục vụ khách hàng tận tụy và chu đáo
- Showroom 1: 388 Ngô Gia Tự F4 Q10.
- Showroom 2: 686 Trường Chinh F15 QTB.
Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh với hệ thống các sản phẩm nội thất từ
bàn ghế, giường, tủ giày dép và một số thiết bị văn phòng khác. Tất cả các sản phẩm
đều mang thương hiệu đồ gỗ GIA PHÚC. Hiện nay, sản phẩm của công ty chiếm một
thị phần khá lớn tại Việt Nam và tỷ lệ phần trăm khách hàng sử dụng sản phẩm Đổ
Gỗ GIA PHÚC ngày càng tăng mạnh với các sản phẩm cùng loại của các nhà sản
xuất khác.
Trải qua 6 năm tồn tại và phát triển với không ít những khó khăn, đặc biệt
những năm gần đây tình hình kinh doanh đồ gỗ biến động.Trước những khó khăn thử
thách đó, tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty đoàn kết một lòng, phấn đấu
không biết mệt mỏi, nhờ đó mà công ty đã dạt được những thành quả lớn lao:
- Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000.
- Đạt lợi nhuận cao trong nhiều năm qua.
SVTH: Lê Thị Thương - 14- Lớp: 09HQT2
®
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét