Tỷ lệ tham gia lực lợng lao động so với dân số từ đủ 15 tuổi trở lên ở nớc ta năm
1997 thấp hơn năm 1996 là 1,72% phù hợp với xu hớng chung . Nhờ kinh tế phát
triển , dân số trên độ tuổi lao động phần lớn đợc nghỉ ngơi , không phải đi làm thêm
ngày càng tăng và trẻ em ở độ tuổi vị thành niên ( trong độ tuổi lao động ) không đợc
đi học phải tham gia lao động ngày càng giảm . Cũng tỷ lệ này , bình quân trên thế
giới giảm nhanh hơn ở Việt Nam ( năm 1995 là 63,63% ; năm 1996 là 61,07% , giảm
2,56% ) .
Tỷ lệ tham gia lực lợng lao động ở Việt Nam năm 1996 cao hơn tỷ lệ bình quân
toàn thế giới 12,95% vì còn nhiều ngời đã hết tuổi lao động và trẻ em vị thành niên
trong độ tuổi đến trờng ở nớc ta vẫn phải tham gia lao động . Đồng thời , tỷ lệ tham
gia lao động của dân số trong độ tuổi lao động năm sau ( 1997 ) thấp hơn năm trớc
( 1996 ) . Đây là một biểu hiện không bình thờng . Một mặt , do tác động của quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
trong khu vực đã làm cho số ngời bị mất việc làm trong độ tuổi lao động tăng lên .
Mặt khác , vì cha làm tốt chính sách phát triển nguồn nhân lực đã khiến cho nhiều
ngời bớc vào tuổi lao động mà cha đợc đào tạo , không thể tìm đợc việc làm ngay
trong năm .
Đối với ngời lao động mà nói , trình độ văn hoá là cơ sở rất quan trọng để nâng
cao trình độ năng lực và kỹ năng làm việc . Số ngời biết đọc , biết viết trở lên ở nớc ta
chiếm 94,23% - 94,87% lực lợng lao động là tỷ lệ khá cao và có xu hớng tăng lên qua
mỗi năm . Số ngời tốt nghiệp cấp II ( trung học cơ sở ) và cấp III (trung học phổ
thông) chiếm 45,53% - 46,49% và cũng có xu hớng tăng dần lên cho thấy khả năng
tiềm ẩn về đào tạo nghề và nâng cao tay nghề của lực lợng nớc ta là khá lớn . Tuy
nhiên , số ngời cha qua đào tạo nghề còn rất lớn , chiếm từ 87,69% - 87,71% lực l-
ợng lao động và có xu hớng tăng dần . Điều này cũng dễ hiểu , vì 80% lực lợng lao
động ở nớc ta còn làm việc ở địa bàn nông thôn và hầu nh cha qua đào tạo . Tỷ lệ
công nhân kỹ thuật còn thấp , chỉ có 4,37% , điều đáng lu ý ở chỗ có đến một nửa
trong số họ đợc đào tạo nhng không có bằng cấp . Rõ ràng , đào tạo nghề cho ngời
5
lao động đang là vấn đề bức xúc đối với lực lợng lao động ở nớc ta . Dân số ngày một
tăng lên , kéo theo nó la` nguồn nhân lực dồi dào , nếu nh ta biết cách quản lý và tích
cực đào tạo về trình độ , tay nghề cho ngời lao động , chắc chắn đây sẽ trở thành một
tiềm lực vững mạnh để phát triển các mặt kinh tế - xã hội cho đất nớc .
Nền kinh tế nớc ta , sản xuất nông nghiệp còn là chủ yếu nên lực lợng lao động có
việc làm thờng xuyên trong khu vực này chiếm tỷ lệ gần 70% . Song do tác động của
quá trình công nghiệp hoá nên lao động nông nghiệp có xu hớng giảm dần , năm
1996 : 69,8% ; năm 1997 : 65,84% . Lao động trong khu vực công nghiệp , xây dựng
và dịch vụ tăng dần , năm 1996 : 30,2% ; năm 1997 : 34,16%, trong đó tăng lên chủ
yếu ở khu vực dịch vụ . Mặc dù vậy, cho đến nay , Việt Nam vẫn có một cơ cấu lao
động theo nghành hết sức lạc hậu . Tuy lao động trong công nghiệp và dịch vụ có
tăng lên , nhng cha đáng kể , và điều đáng nói ở đây là lao động chủ yếu vẫn làm việc
trong khu vực nông , lâm ng nghiêp . Việc cải thiện cơ cấu lạc hậu này diễn ra rất
chậm chạp . Điều này phụ thuộc nhiều nguyên nhân, trong đó có yếu tố mức sinh ở
nông thôn luôn cao khoảng gấp đôi ở thành phố . Do vậy , lao động tích tụ ở đây cũng
ngày một nhiều và tỷ trọng giảm chậm , mặc dù đã diễn ra luồng di dân mạnh mẽ từ
nông thôn ra thành thị kèm theo sự chuyển đổi nghành nghề .
Trong nông nghiệp , khi số dân và lao động khu vực này tăng lên nhanh chóng thì
quỹ đất canh tác lại có hạn. Hơn nữa . quá trình công nghiệp hoá đất nớc càng diễn ra
mạnh mẽ thì đất nông nghiệp càng phải chuyển giao cho công nghiệp , dịch vụ , các
công trình công cộng khác . Diện tích đất nông nghiệp không ngừng giảm xuống
trong thời gian qua . Năm 1921 , bình quân 0,4 ha/ngời ; năm 1993 còn 0,098 ha/ng-
ời. Bình quân hộ giàu ở nông thôn Việt Nam mới có 1,2 ha đất canh tác trong khi ở
Mỹ là 80ha , ở Châu Âu là 9ha . Chính sức ép về đất đai hạn hẹp đã gây ra tình trạng
thiếu việc làm trở nên phổ biến ở nông thôn nớc ta.
Công nghiệp , các nghành dịch vụ là những nghành cần tập trung vốn đầu t lớn nh-
ng do quy mô dân số tăng nhanh , cơ cấu dân số trẻ đòi hỏi cần sử dụng nhiều thu
6
nhập quốc dân sử dụng cho giáo dục , y tế , phúc lợi xã hội dẫn đến tình trạng thiếu
trầm trọng vốn tích luỹ đầu t cho công nghiệp , dịch vụ .
Một trong những vấn đề đáng lu tâm hiện nay có liên quan đến việc sử dụng có
hiệu quả nguồn lao động trong nớc đi làm việc , lao động ở nớc ngoài đó là chiến lợc
xuất khẩu lao động ở nớc ta . Nếu nh những năm 1991, 1992 , xuất khẩu lao động khi
mới chuyển sang hoạt động theo cơ chế mới , còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong việc
tìm kiếm , khai thác thị trờng mới nên số lao động đa đi còn khiêm tốn và không ổn
định, đặc biệt năm 1998 đợc coi là một năm khó khăn cho xuất khẩu lao động Việt
Nam , lợng lao động giảm tử 18000 ngời năm 1997 xuống còn 10300 ngời năm 1998
do cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ; thì đến năm 2002 , số lợng lao động của
Việt Nam đã tăng vọt lên 46120 ngời nhờ khai thác đợc thị trờng Malaysia . Riêng
trong năm 2002 , với 43 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu lao động đã đa đợc 20
nghìn lao động Việt Nam sang lao động ở Malaysia . Và cho đến nay , Việt Nam đã
có gần 400 ngàn lao động đang làm việc tại 40 nớc và vùng lãnh thổ , trong 30
nghành nghề khác nhau ( xây dựng , cơ khí , điện tử , dệt may , chế biến hải sản ,
dịch vụ , vận tải biển , chuyên gia y tế , giáo dục, giúp việc gia đình , khám hộ ) .
Nh vậy , bằng con đờng xuất khẩu lao động đi làm việc ở nớc ngoài , Chính phủ ta
đã giải quyết đợc một lợng lao động d thừa trong nớc đang rất cần việc làm , đem lại
cho đất nớc một khoản ngoại tệ mỗi năm khoảng 1,4 tỷ USD ( theo báo Diễn đàn
doanh nghiệp , số 32 , ngày 18/4/2003 ) , tạo điều kiện cho kim nghạch xuất khẩu lao
động ở nớc ta chỉ đứng sau xuất khẩu dầu mỏ , dệt may , thuỷ sản và du lịch. Không
những thế đã đem lai công ăn việc làm cho số lợng lao động ngày một tăng , tạo điều
kiện nâng cao đời sống vật chất - tinh thần cho ngời dân Việt Nam .
Mặc dù đã có những kết quả khả quan , song xuất khẩu lao động của Việt Nam so
với những nớc trong khu vực nh : Philipines , Thái Lan , Indonesia vẫn còn thua kém .
Hiện nay , xuất khẩu lao động của Việt Nam mới đợc gần 400 ngàn ngời , trên 40 nớc
và vùng lãnh thổ , thu về cho đất nớc mỗi năm hơn 1 tỷ USD , trong khi đó Philipines
- nớc xuất khẩu lao động đứng đầu trong khu vực hiện có khoảng 5 - 6 triệu lao động
7
đang làm việc ở 133 nớc trên khắp các châu lục mỗi năm thu đợc từ 8 - 10 tỷ USD từ
xuất khẩu lao động . Thái Lan cũng thu đợc mỗi năm 3 tỷ USD từ hoạt động này .
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế , việc nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị tr-
ờng quốc tế là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Để xuất khẩu lao động của Việt
Nam có thể cạnh tranh đợc với xuất khẩu lao động của các nớc trong khu vực , trớc
hết xuất khẩu lao động cần phải đợc coi nh 1 nghành xuất khẩu mang lại nguồn ngoại
tệ lớn cho đất nớc , mà sản phẩm hàng hoá của nó là sức lao động và trình độ tay
nghề của ngời lao động xuất khẩu . Xuất khẩu lao động cần phải đợc đầu t thoả đáng
nhằm nâng cao năng lực quản lý , nâng cao chất lợng lao động xuất khẩu và mở rộng
thị trờng . Tức là phải giải quyết cả 3 yếu tố quyết định : nguồn nhân lực , thị trờng và
công tác quản lý .
Song bên cạnh đó, với các nớc trong khu vực và trên thế giới , tỷ lệ thất nghiệp
của Việt Nam hiện nay tơng đối cao và không ổn định .Theo số liệu của Tổng cục
Thống kê từ năm 1976 đến năm 1994 và kết quả điều tra lao động - việc làm trong 3
năm 1996, 1997 , 1998 thì tỉ lệ thất nghiệp ở nớc ta khi chuyển sang kinh tế thị trờng
đều ở mức xấp xỉ 6% trở lên .
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động Việt Nam phân theo vùng :
Đơn vị : %
Vùng 1996 1997 1998
Miền núi và trung du phía Bắc 6,13 6,01 6,25
Đồng bằng sông Hồng 7,31 7,56 8,25
Bắc Trung Bộ 6,67 6,69 7,28
Duyên hải miền Trung 5,3 5,2 6,67
Đông Nam Bộ 5,3 5,79 6,44
Tây Nguyên 4,08 4,48 5,88
Đồng bằng sông Cửu Long 5,59 4,56 6,44
8
Bình quân cả nớc 5,62 5,81 6,85
Lực lợng thất nghiệp thờng tập trung ở các vùng đông dân và đô thị lớn . Năm
1996 , tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam là 5,62% trong khi đó ở Trung Quốc và
Malaysia là 3% , Thái Lan là 2% . Cho đến năm 2002 , số lao động thất nghiệp và
thiếu việc làm của nớc ta là hơn 8,2 triệu ngời . Điều đáng nói ở đây là : tuy lực lợng
lao động đông đảo về số lợng nhng chất lợng thì lại rất kém . Sự thiếu hụt và yếu kém
của lao động có trình độ chuyên môn , cha đáp ứng đợc yêu cầu của các doanh
nghiệp . Điều đó nói lên tính bức bách của việc nâng cao hơn nữa hệ thống đào tạo :
từ trờng lớp , cơ sở vật chất - kỹ thuật , giáo viên , giáo trình Với mục tiêu hớng tới
xây dựng một nền kinh tế tri thức , đòi hỏi từ bây giờ cần có một chiến lợc phát triển
dân số một cách hợp lý , một hệ thống giáo dục - đào tạo đợc đầu t thoả đáng. Về lâu
dài , trong chiến lợc nâng cao chất lợng nguồn lao động , đáp ứng cho nhu cầu công
nghiệp hoá - hiện đại hoá : ngời lao động cần phải đợc trang bị cả chuyên môn nghiệp
vụ và ngoại ngữ . Việc dạy ngoại ngữ cho ngời lao động phải đợc thực hiện có hiệu
quả từ các cấp phổ thông , sao cho khi bớc vào độ tuổi lao động , họ có thể sử dụng đ-
ợc một ngoại ngữ thông dụng trên thế giới .
b/ Gia tăng dân số và phát triển kinh tế :
Để phát triển kinh tế đòi hỏi chúng ta phải tăng cờng sức sản xuất xã hội , từ đó
nâng cao thu nhập quốc dân . Muốn đẩy nhanh quá trình này đòi hỏi phải tăng mức
đầu t . Tuy nhiên , do sự gia tăng dân số , do tác động của mức sinh còn quá cao; tất
cả đã dẫn tới một thực trạng là tỷ lệ dân số phụ thuộc trong tổng số dân (hoặc trong
tổng số dân làm việc ) cao lên . Đây là gánh nặng đối với từng gia đình và toàn bộ
nền kinh tế , vì tỷ lệ tiêu dùng lớn lên , tỷ lệ tích luỹ ắt sẽ giảm đi và dẫn đến làm
giảm khả năng đầu t để tăng năng lực cần thiết cho nền sản xuất xã hội . Mặt khác ,
do tỷ lệ dân số phụ thuộc lớn mà phải tăng đầu t cho y tế , cho giáo dục và các loại
phúc lợi xã hội khác , đầu t trực tiếp cho sản xuất phải giảm đi Hậu quả là sản xuất
tăng chậm. Hơn nữa , dân số tăng nhanh có thể làm cho chất lợng vốn con ngời giảm
9
xuống ở mức thấp và hầu nh không cải thiện đợc . Điều này trớc hết liên quan đến
việc cung cấp không đủ dinh dỡng và chăm sóc y tế cho trẻ em và cả ngời lao động ,
trình độ học vấn thấp và lao động phần lớn không đợc đào tạo . Do đó , năng suất lao
động không cao , khiến cho Tổng sản phẩm quốc dân tăng chậm . Sức sản xuất tăng
chậm đợc thể hiện càng rõ hơn trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tiền tệ trong
khu vực trở nên trầm trọng và có xu hớng kéo dài , làm giảm đầu t nớc ngoài vào Việt
Nam , công nghiệp và dịch vụ tăng trởng chậm lại , nguồn thu ngân sách không đảm
bảo yêu cầu chi thờng xuyên , nhiều công trình xây dựng cơ bản phải giảm tiến độ
xây dựng , hàng hoá ứ đọng , công nhân thiếu việc làm dẫn đến tình trạng một số
doanh nghiệp phải tạm ngừng hoặc thu hẹp quy mô sản xuất Điều này dẫn đến việc
mọi nỗ lực nhằm gia tăng vốn đầu t cho sản xuất giảm ( hoặc tăng chậm) thì thu nhập
quốc dân tăng chậm . Trong khi đó , tỷ lệ tăng dân số vẫn cao làm quy mô dân số lớn
lên , dẫn đến thu nhập quốc dân tính theo đầu ngời không tăng hoặc tăng chậm .
Đối với yếu tố công nghệ , có nhiều lập luận cho rằng quy mô dân số lớn và tăng
trởng nhanh sẽ tạo ra sức ép làm nảy sinh các phát minh khoa học và đẩy nhanh tiến
bộ công nghệ . Những thành tựu trong nông nghiệp là một ví dụ . Dân số đông , thị
trờng lớn , triển vọng về mức thu lợi lớn hơn làm cho các nhà đầu t dễ chấp nhận triển
khai các công nghệ mới tăng thêm sản lợng để thu lợi nhiều hơn . Ngời ta cũng cho
rằng " hiệu quả sản xuất tỷ lệ thuận với quy mô sản xuất " . Điều này cũng có nghĩa
là tỷ lệ thuận với quy mô dân số và tốc độ tăng trởng của nó . Tuy nhiên , tiến bộ kỹ
thuật cũng cần phải có thời gian vả lại cần những đầu t lớn nh thuỷ lợi , thuỷ điện
Hơn nữa , nếu đông dân mà nghèo , sức mua kém thì cũng không có thị trờng lớn .
Từ những lập luận trên đây có thể thấy rằng : Tăng nhanh dân số ở các nớc nghèo
và đang phát triển là bất lợi cho tăng trởng kinh tế . Các chuyên gia dân số cho rằng :
khi dân số tăng lên 1% thì GDP phải tăng lên từ 3% đến 4% mới đáp ứng đợc nhu cầu
dân c và nền kinh tế khi đó mới phát triển bình thờng .
Từ thực tế trên cho thấy , muốn thực hiện đợc mục tiêu phát triển kinh tế thì ngoài
phần đầu t trực tiếp cho các chơng trình , dự án phát triển sản xuất cụ thể ; Nhà nớc
10
cần đa vào quy hoạch , kế hoạch tạo việc làm cho lực lợng lao động ngày một tăng để
có thể giảm bớt áp lực từ phía tỷ lệ dân phụ thuộc . Trớc mắt , Nhà nớc và các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cần tập trung giải quyết việc làm cho số lao động
mất việc tạm thời trong các năm trớc trên cơ sở phục hồi và mở rộng sản xuất , kinh
doanh . Việc tạo thêm việc làm mới cho số lao động bổ sung từ các nguồn cần thực
hiện phơng châm : Nhà nớc , doang nghiệp và nhân dân cùng làm , không thể chỉ
trông chờ vào nhà nớc . Vấn đề nâng cao chất lợng lao động và tạo việc làm phù hợp
với trình độ cho số lao động d thừa trong nớc sẽ làm cơ sở cho việc chuyển dịch cơ
cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp cũng cần phải đợc quan tâm và
giải quyết đồng bộ , bắt đầu lại từ quy hoạch thị trờng lao động , từ đầu vào , dạy
nghề , đến đầu ra phải có các chính sách khuyến khích học nghề và dạy nghề ,
chuyển mạnh trọng tâm và đầu t kinh phí ngân sách từ đào tạo " thầy" sang đào tạo
"thợ" theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nớc . Nhằm thực
hiên mục tiêu tăng trởng kinh tế qua mỗi năm và giảm thiểu bớt những tác động tiêu
cực của quá trình tăng dân số mang lại .
c/ ả nh h ởng của dân số đến tiêu dùng và tích luỹ :
Trớc hết , tiêu dùng là một yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển , mở rộng thị trờng .
Có nhiều yếu tố xác định khối lợng và cơ cấu vật phẩm tiêu dùng và các loại dịch vụ
nhng quy mô , cơ cấu dân số là những yếu tố quan trọng .
Nghiên cứu tác động của dân số đến tiêu dùng trên phạm vi toàn xã hội trớc tiên
cho thấy khối lợng vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào dân số .
Khẩu phần ăn chủ yếu của nớc ta hiện nay là lơng thực . Mức ăn bình quân nhân khẩu
hàng năm phải đạt trên 300kg lơng thực quy thóc mới đảm bảo đủ calo cho cơ thể .
Cho đến năm 1989 , sản lợng lơng thực sản xuất qua các năm có tăng , song do tỷ lệ
gia tăng dân số cao nên lơng thực quy thóc bình quân đầu ngời giảm và cha đạt mức
300 kg/ ngời/ năm . Từ năm 1940 đến 1980 , sản lợng lơng thực nớc ta tăng lên 2,6
lần nhng dân số tăng 2,8 lần nên bình quân lơng thực lai giảm từ 298kg/ ngời/ năm
còn 268 kg . Từ năm 1989 trở lại đây , nhờ đờng lối đổi mới , sản xuất nông nghiệp
11
phát triển sản lợng lơng thực tăng nhanh , tỷ lệ tăng dân số lại giảm dần nên lơng thực
bình quân đầu ngời đã đạt mức trên 300kg . Điều đáng lu ý , tuy tỷ lệ tăng dân số đã
giảm đáng kể nhng còn ở mức cao , nên tỷ lệ tăng lơng thực bình quân đầu ngời vẫn
thấp so với tỷ lệ tăng tổng sản lợng lơng thực quy thóc cùng kỳ .Do đó ta thấy, nếu
chỉ nâng cao tổng sản lợng lơng thực mà không chú ý đến giảm tốc độ tăng dân số thì
khó có thể nâng cao bình quân lơng thực đầu ngời ; và để sự gia tăng lơng thực bình
quân đầu ngời thực sự bền vững thì năng suất cây lơng thực phải tăng nhanh hơn tốc
độ tăng dân số và tốc độ suy giảm diện tích đất canh tác dành cho cây lơng thực .
Nh vậy , tăng dân số nhanh là áp lực lớn về lơng thực , thực phẩm và là nguyên
nhân chủ yếu của tình trạng đói nghèo . Đối với các sản phẩm tiêu dùng khác nh vải
vóc , diện tích lớp học , giấy bút , đồ gỗ , nhiên liệu tình hình cũng diễn ra nh vậy .
Cùng với quy mô tiêu dùng ngày càng lớn , việc quản lý , khai thác sử dụng tài
nguyên , khoáng sản lại thiếu chặt chẽ , đồng bộ đã làm cho tài nguyên ở nớc ta đang
bị cạn kiệt dần , môi trờng bị tàn phá ngày càng trầm trọng . Tốc độ khai thác và sử
dụng khoáng sản ở nớc ta cũng khá nhanh . Trong vòng 8 năm từ 1991 đến 1998 , sản
lợng khai thác dầu , than và đá đều gấp hơn 2 lần trong khi trữ lợng của chúng thì lại
có hạn .
Bên cạnh tác động của quy mô dân số đến quy mô tiêu dùng , thì cơ cấu tiêu dùng
cũng bị ảnh hởng mạnh bởi các yếu tố dân số nh : cơ cấu theo độ tuổi , giới tính
Chính sự khác biệt lớn về nhu cầu sử dụng hàng hoá , dịch vụ sinh hoạt giữa trẻ em
và ngời già , nữ và nam đã tạo nên cơ cấu sản xuất và tiêu dùng xã hội khác nhau .
Xét về mặt giá trị chi phí tiêu dùng trong năm của con ngời phụ thuộc nhiều vào
độ tuổi của họ . Các nhà nghiên cứu đã xác định quy luật : hệ số chi phí tiêu dùng
tăng dần từ độ tuổi 0 , đạt lớn nhất là nằm trong khoảng tuổi từ 25 đến 29 sau đó
giảm dần ở các tuổi tiếp theo . Trong cơ cấu dân số Việt Nam , khoảng tuổi có chi phí
tiêu dùng cao nhất lại cũng đang chiếm u thế , do vậy tiêu dùng lớn là lẽ tất nhiên .
Tuy nhiên , trong xã hội của chúng ta luôn luôn có những nhóm ngời mà chi phí
tiêu dùng vợt quá thu nhập do lao động của họ mang lại hoặc họ không có thu nhập ,
12
chẳng hạn nh trẻ em cha đến tuổi lao động hoặc ngời già . Ngợc lại cũng tồn tại
những nhóm ngời mà thu nhập do họ tạo ra vợt quá mức tiêu dùng của bản thân . F
Ănghen viết :" Những ngời đã trởng thành có thể sản xuất nhiều hơn cái họ tiêu dùng
. Nếu ngợc lại , xã hội không thể phát triển đợc , thậm chí không tồn tại đợc vì trẻ con
sống bằng gì ?". Do đó , để xã hội phát triển , những ngời lao động phải sản xuất
không chỉ đủ tiêu dùng cho họ mà còn cả những ngời phụ thuộc vào họ và còn phải
nhiều hơn thế mới có tích luỹ mở rộng sản xuất .
Sự tăng trởng kinh tế của một quốc gia đợc quyết định bởi 2 yếu tố cơ bản là tích
luỹ và đầu t , do tích luỹ chính là để tạo thêm vốn đầu t , mở rộng sản xuất , tăng sản
phẩm xã hội . Nhng tích luỹ lại phụ thuộc trực tiếp vào tiêu dùng xã hội , đặc biệt khi
tổng sản phẩm xã hội không đổi . Để xã hội phát triển , ngời lao động phải sản xuất
không chỉ đủ tiêu dùng cho họ mà cho cả những ngời phụ thuộc vào họ và nhiều hơn
thế mới có tích luỹ mở rộng sản xuất . Ngời ta cũng chứng minh đợc rằng , khối lợng
tích luỹ của mỗi quốc gia phụ thuộc vào quy mô và cơ cấu dân số , nhất là cơ cấu dân
số theo độ tuổi vì nó có liên quan đến lực lợng lao động sản xuất ra của cải vật chất
và chi phí tiêu dùng khác nhau ở mỗi độ tuổi .
ở Việt Nam , từ năm 1990 về trớc , nền kinh tế tăng trởng thấp và không ổn định ,
tốc độ gia tăng dân số lại tơng đối cao nên cha có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc
dân . Giai đoạn 1991- 1995 , GDP tăng ở mức cao , bình quân 8,3%/năm , trong khi
tỷ lệ tăng dân số giảm đáng kể đã tạo đợc nguồn tích luỹ và đầu t trong nớc . Mấy
năm gần đây, phần dành cho tích luỹ đầu t hàng năm đã chiếm trên 1/4 giá trị tổng
sản phẩm trong nớc , gấp hơn 2 lần trớc năm 1987. Có thể thấy từ năm 1997 , mức
tăng trởng kinh tế Việt Nam vẫn khá ổn định nên khối lợng tiết kiệm và đầu t vẫn đợc
mở rộng . Đây là kết quả tổng hợp của các chính sách mới về kinh tế , xã hội trong đó
có tác dụng tích cực của chính sách dân số . Việc giảm mức sinh , quy mô gia đình
nhỏ , tỷ lệ phụ thuộc ngày càng thấp đã làm tăng khả năng tích luỹ , tiết kiệm của các
hộ , tạo điều kiện để các gia đình tăng vốn đầu t ngày một nhiều hơn Nhận rõ tác
động to lớn của dân số , chúng ta cần đẩy mạnh nghiên cứu trong lĩnh vực xây dựng
13
và thực hiện chính sách dân số nhằm sớm hạ thấp mức sinh , ổn định quy mô dân số ,
phân bố dân c hợp lý và nâng cao chất lợng dân số nhằm phát triển bền vững đất nớc .
2/ ả nh h ởng của sự phát triển dân số tới các vấn đề xã hội ở n ớc ta :
Trong quá trình phát triển , các yếu tố cuả qúa trình dân số ( sinh , chết , di dân)
không tồn tại độc lập với các yếu tố kinh tế - xã hội . Trái lại , chúng luôn có quan hệ
mật thiết và tác động qua lại với nhau . ở đây ta xét đến mối quan hệ qua lại giữa dân
số và các nhân tố xã hội . Tuy nhiên , các nhân tố xã hội là một tổng thể rất phức
tạp , bao gồm nhiều yếu tố nh : Giáo dục ; y tế ; mức sống của dân c ; bình đẳng giới
và phát triển dân số do đó chúng ta cần đi sâu xem xét từng vấn đề để có thể hiểu
đợc những tác động của dân số tới các vấn đề xã hội trên
a/ Dân số và giáo dục :
Trớc hết , giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức , có mục đích , có kế hoạch
nhằm truyền cho lớp ngời mới những kinh nghiệm trong đấu tranh và sản xuất ,
những tri thức về tự nhiên , về xã hội và về t duy , để họ có đủ khả năng tham gia vào
lao động và đời sống xã hội
Hoạt động xã hội đợc tổ chức một cách chặt chẽ nhất là ở nhà trờng . Các lớp học
đợc sắp xếp theo một chơng trình thống nhất hợp lý và do những ngời có trình độ
chuyên môn cao hớng dẫn . Giáo dục còn có thể diễn ra ngoài nhà trờng do các tổ
chức xã hội hoặc do cha mẹ hớng dẫn . Hoạt động giáo dục có thể tiến hành một cách
chính quy hoặc không chính quy . Các loại giáo dục trên đều có mối quan hệ qua lại
với dân số . Dân số tăng nhanh đã trở thành một trong những cản trở không nhỏ tới
những hoạt động giáo dục trong nớc , dẫn tới những hiện tợng bất công bằng trong
giáo dục , đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn .
Gia tăng dân số nhanh với số trẻ em bớc vào độ tuổi đi học cao hàng năm cùng với
sự chênh lệch trong điều kiện giáo dục ở khu vực thành thị và nông thôn là một trong
những nguyên nhân dẫn đến sự bất công bằng trong giáo dục . ở Việt Nam , sự bất
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét