Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Ngoại thương Việt Nam từ năm 2000 đến nay

LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ hàng trăm thế kỷ trước, các nhà kinh tế học cổ điển đã nhấn mạnh tầm quan
trọng của Ngoại thương đối với sức khỏe của một nền kinh tế. “Nội thương là ống dẫn,
ngoại thương là máy bơm, muốn tăng của cải phải có ngoại thương nhập dần của cải
qua nội thương”
Sự phát triển của ngoại thương đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu
rộng vào nền kinh tế thế giới; góp phần tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế nhờ sử dụng
hiệu quả lợi thế so sánh trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế;
nâng cao trình độ công nghệ và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo việc
làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động… Như vậy, hoạt động ngoại
thương đóng một vai trò không thể thiếu trong tiến trình vực dậy nền kinh tế Việt Nam
kể từ ngày mở cửa
Trong phạm vi hẹp của đề tài tiểu luận này, nhóm nghiên cứu sẽ tập trung làm rõ thực
trạng hoạt động Ngoại thương Việt Nam trong thế kỷ 21 ( từ năm 2000 đến nay ), thời
kỳ có rất nhiều biến chuyển trong hoạt động Ngoại thương cũng như những bước phát
triển nhảy vọt của kinh tế nước nhà, từ đó có giải pháp hữu hiệu thúc đẩy hoạt động
ngoại thương thời gian tới.
1
Chương 1
KHÁI NIỆM NGOẠI THƯƠNG
1.1.Khái niệm
Ngoại thương là hoạt động kinh tế đã có từ lâu đời: Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ
và tiếp đó là chế độ phong kiến. Trong các xã hội nô lệ và phong kiến, do kinh tế tự
nhiên còn chiếm địa vị thống trị, nên ngoại thương chỉ phát triển với quy mô nhỏ bé.
Lưu thông hàng hoá giữa các quốc gia chỉ dừng lại ở một phần nhỏ sản phẩm sản xuất ra
và chủ yếu là để phục vụ cho tiêu dùng cá nhân của giai cấp thống trị đương thời.
Ngoại thương chỉ thực sự phát triển trong thời đại tư bản chủ nghĩa. Ngoại
thương trở thành động lực phát triển quan trọng của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa.
Ngày nay sản xuất đã được quốc tế hoá. Không một quốc gia nào có thể tồn tại
và phát triển kinh tế mà lại không tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi
hàng hoá với bên ngoài.
Như vậy, Ngoại thương là sự trao đổi dưới hình thức mua bán hàng hóa và các
dịch vụ kèm theo, lấy tiền tệ làm môi giới giữa các nước khác nhau.
Trong nhiều trường hợp, trao đổi hàng hoá và dịch vụ được đi kèm việc trao đổi
các yếu tố sản xuất (ví dụ lao động và vốn), nhất là ngoại thương trong điều kiện hội
nhập khu vực và quốc tế.
Các nhà kinh tế học còn dùng định nghĩa ngoại thương như là một công nghệ
khác để sản xuất hàng hoá và dịch vụ (thậm chí cả các yếu tố sản xuất). Như vậy, ngoại
thương được hiểu như là một quá trình sản xuất gián tiếp.
Trong hoạt động ngoại thương: Xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho
nước ngoài, và nhập khẩu là việc mua hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài. Mục tiêu
chính của ngoại thương là nhập khẩu chứ không phải là xuất khẩu. Xuất khẩu là để nhập
khẩu; nhập khẩu là nguồn lợi chính từ ngoại thương.
Ngoại thương là một trong những hoạt động chủ yếu của kinh tế đối ngoại của
một quốc gia. Điều kiện để ngoại thương sinh ra, tồn tại và phát triển là:
(1) Có sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ, kèm theo đó là sự xuất hiện
của tư bản thương nghiệp.
(2) Sự ra đời của Nhà nước và sự phát triển của phân công lao động quốc tế giữa các
nước.
2
1.2. Vì sao lại có ngoại thương ?
- Tại sao các nước cần phải giao dịch buôn bán với nhau? Tại sao Việt Nam (hay bất kỳ
một quốc gia nào khác) không bằng lòng với hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra tại nước
mình?
- Quốc gia cũng như cá nhân không thể sống riêng rẽ mà vẫn đầy đủ được. Ngoại
thương mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước. Nó cho phép một nước tiêu dùng tất
cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với đường giới hạn khả
năng sản xuất của nước đó
- Các động lực xuất khẩu bao gồm:
+ Để sử dụng khả năng dư thừa.
+Giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị.
+ Lợi ích nhiều hơn.
+ Phân tán các rủi ro.
- Các động lực nhập khẩu bao gồm:
+ Nguồn cung cấp rẻ.
+ Có thêm nhiều mặt hàng, sản phẩm.
+ Giảm rủi ro do không có nguồn cung cấp.
1.3.Vai trò ngoại thương đối với nền kinh tế
- Giúp thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế, nâng cao thu nhập quốc dân tính theo đầu người
- Phân phối hợp lý thu nhập quốc dân, tạo thêm nhiều việc làm mới.
- Sử dụng tốt nhất mọi khả năng, tiềm năng sản xuất trong nước.
- Bảo vệ và cải thiện môi trường góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
- Nâng cao vị thế kinh tế, chính trị của nước ta trên thị trường.
- Cán cân thanh toán lành mạnh.
- v v
3
• Vai trò nhập khẩu
- Tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá đất nước.
- Bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế đảm bảo phát triển kinh tế cân đối
và ổn định.
- Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân. Ở đây, nhập khẩu
vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo đầu vào
cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động.
- Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu. Sự tác động này thể hiện ở chỗ
nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho việc
xuất khẩu hàng Việt Nam ra nước ngoài, đặc biệt là nước nhập khẩu.
Hàng cấm nhập khẩu (Xem Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 4 tháng 4
năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ)
1/ Vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ.
2/ Các loại ma tuý.
3/ Các hoá chất độc.
4/ Sản phẩm văn hoá đồi trụy, phản động, đồ chơi trẻ em có ảnh hưởng xấu đến giáo dục
nhân cách và trật tự, an toàn xã hội.
5/ Pháo các loại (trừ pháo hiệu).
6/ Thuốc lá điếu, xì gà và các loại thuốc lá thành phẩm khác.
• Vai trò xuất khẩu
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước.
- Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời
sống của nhân dân.
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta.
Ngành hàng xuất khẩu then chốt
1/ Nông nghiệp và ngư nghiệp.
a) Kinh tế vườn, thực phẩm chế biến và gia vị.
b) Hải sản.
4
c) Lương thực.
d) Hạt có dầu và dầu ăn.
2/ Lâm nghiệp và đồn điền.
a) Gỗ và sản phẩm gỗ.
b) Cao su và sản phẩm cao su.
3/ Hoạt động công nghiệp.
a) May mặc và tơ tằm.
b) Những sản phẩm điện tử, đồ điện và cơ khí.
c) Da và các sản phẩm da.
d) Thủ công nghiệp và các hàng thủ công.
Hàng hoá cấm xuất khẩu (áp dụng cho suốt thời kỳ 2001 - 2005)
1/ Vũ khí đạn dược, vật liệu nổ (trừ vật liệu nổ công nghiệp), trang thiết bị quân sự.
2/ Đồ cổ.
3/ Các loại ma tuý.
4/ Các loại hoá chất độc.
5/ Gỗ tròn, gỗ xẻ từ gỗ rừng tự nhiên trong nước, củi, than làm từ gỗ hoặc củi, có nguồn
gốc từ gỗ rừng tự nhiên trong nước.
6/ Động vật hoang dã và động thực vật quý hiếm tự nhiên.
7/ Các loại máy mã chuyên dùng và các chương trình phần mềm mật mã sử dụng trong
phạm vi bảo vệ bí mật Nhà nước.
5
Chương 2
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Ngoại thương nước ta trong thời gian qua đã thực sự giúp cho nền kinh tế đất
nước khai thác thế mạnh trong sản xuất hàng hóa hướng về xuất khẩu. Ngoại thương
đóng góp rất lớn cho tốc độ tăng trưởng kinh tế và thay đổi bộ mặt ngành công nghiệp,
dịch vụ và cả trong sản xuất nông nghiệp. Cùng xem xét những điều kiện thuận lợi và
bất lợi để hiểu rõ hơn về lợi thế so sánh của nước ta.
2.1.Lợi thế về vị trí địa lý
Việt Nam có hệ thống sông ngòi, kênh rạch khá chằng chịt, khí hậu nhiệt đới gió
mùa cũng tác động sâu sắc tới hoạt động kinh tế, nhất là nông nghiệp. Việt Nam nằm
trong vùng Đông Nam Á, là vùng có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới. Bình
quân mỗi nước ở khu vực này mức tăng trưởng kinh tế đạt 6-7% / năm. Có biên giới đất
liền với Trung Quốc, Lào, Campuchia và bờ biển dài 3.444 km tiếp giáp với vịnh Bắc
Bộ, biển Đông và vịnh Thái Lan. Việt Nam nằm trên tuyến đường giao lưu hàng hải
quốc tế, ven biển, nhất là từ Phan Thiết trở vào có nhiều cảng nước sâu tàu bè dễ cập bến
an toàn quanh năm. Sân bay Tân Sơn Nhất nằm ở vị trí lí tưởng, cách đều thủ đô các
thành phố quan trọng khu vực Đông Nam Á. Vị trí địa lý thuận lợi cho phép ta mở rộng
quan hệ kinh tế ngoại thương và thu hút đầu tư nước ngoài.
2.2.Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên
• Về đất đai : Diện tích đất đai cả nước khoảng 330.363 km2 trong đó có tới
50% là đất nông nghiệp và ngư nghiệp. Khí hậu nhiệt đới mưa nắng điều
hòa cho phép chúng ta phát triển nông lâm sản xuất khẩu có hiệu quả cao
như gạo, cao su và các nông sản nhiệt đới. Chiều dài bờ biển 3260km, diện
tích sông ngòi và ao hồ hơn 1 triệu ha cho phép phát triển ngành thủy sản
xuất khẩu và phát triển thủy lợi, vận tải biển và du lịch.
• Về khoáng sản : Dầu mỏ hiện nay là tài nguyên mang lại nguồn thu ngoại tệ
đáng kể, sản lượng khai thác hàng năm gia tăng. Than đá trữ lượng cao,
khoảng 3.6 tỷ tấn; mỏ săt với trữ lượng vài trăm triệu tấn, cả 3 miền Bắc –
Trung – Nam đều có nguồn clanh-ke để sản xuất xi măng dồi dào.
6
2.3.Lợi thế về lao động
Đây là thế mạnh của nước ta. Tính đến năm 2009, dân số nước ta khoảng 86.5
triệu người, trong đó hơn 40 triệu người trong độ tuổi lao động. Lao động dồi dào, giá
nhân công rẻ, khoảng 0.16$/ 1 giờ lao động trong khi ở Nhật là 23$ / 1 giờ lao động, tỷ
lệ thất nghiệp lớn ( khoảng 20-30% số người trong độ tuổi lao động ). Lao động là một
lợi thế cơ bản để phát triển các ngành hàng: Dệt may, chế biến nông lâm thủy sản, lắp
ráp điện tử….
Ngoài ra lợi thế của Việt Nam còn có lợi thế về chính trị: Việt Nam có một nền
chính trị ổn định, nền kinh tế theo cơ chế thị trường và phương châm ngoại giao là đa
phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ thương mại, chủ động hội nhập quốc tế.
2.4.Những hạn chế :
-Diện tích đất canh tác bình quân đầu người thấp so với bình quân thế giới, chỉ khoảng
0.1ha / người. Tuy sản lượng lương thực cao nhưng phải đảm bảo nhu cầu của gần 90
triệu dân trong nước nên không thể tạo ra nguồn tích lũy lớn cho những đòi hỏi cao hơn
của sự phát triển kinh tế.
-Về tài nguyên: Tuy có phong phú nhưng phân bố tản mạn. Giao thông vận tải kém nên
khó khai thác, chưa có trữ lượng khoán sản nào đủ lớn để trở thành mặt hàng chiến lược.
Tài nguyên rừng, biển, thủy sản khai thác quá mức mà không được chăm bồi.
-Vị trí địa lý đẹp nhưng cơ sở hạ tầng yếu kém, các hải cảng ít và nhỏ, đường sá và
phương tiện giao thông lạc hậu.
-Trình độ quản lý kinh tế và bộ máy chính quyền kém hiệu quả, quan liêu, tham nhũng.
Chính sách Pháp luật không rõ ràng, thiếu đồng bộ lại hay thay đổi gây cản trở cho quá
trình đổi mới kinh tế.
-Trình độ quản lý của cán bộ và tay nghề công nhân còn thấp cho nên năng suất lao động
thấp, chất lượng hàng hóa chưa cao.
-Công nghệ và trang thiết bị nhiều ngành kinh tế Việt Nam còn ở trình độ thấp, hàng hóa
Việt Nam chưa mang tính cạnh tranh trên thị trường Quốc tế.
2.5.Tổng quan kinh tế Việt Nam từ sau giai đoạn cải cách
Những năm đầu thế kỷ 21, trong xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam có điều kiện
thuận lợi để phát triển hoạt động kinh tế ngoại thương, tạo điều kiện cho đất nước hòa
nhập với nền kinh tế thế giới.
7
Việt Nam bắt đầu chủ trương hội nhập kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII (1996), chủ trương này càng được đẩy mạnh. Hội nhập kinh tế của Việt Nam diễn
ra càng ngày càng nhanh và càng sâu. Từ chỗ chỉ hợp tác thương mại thông thường đã
tiến tới hợp tác kinh tế toàn diện, từ chỗ hợp tác song phương đã tiến tới hợp tác kinh tế
đa phương. Cho đến giữa năm 2007, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước và
vùng lãnh thổ trên thế giới, đã ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song phương, 87
hiệp định thương mại, 51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định tránh đánh
thuế hai lần, 81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốc. Đỉnh cao về hợp tác kinh tế song
phương là việc ký hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản, còn về hợp tác kinh tế
đa phương là việc ký hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới với tiêu chuẩn
“WTO Plus”, nghĩa là chấp nhận các đòi hỏi về tự do hóa thương mại (hàng hóa và dịch
vụ), đầu tư, mua sắm của chính phủ cao hơn so với mức độ quy định trong các văn kiện
có hiệu lực đang áp dụng của WTO.
Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 60 trong các nền kinh tế thành viên của Quỹ Tiền
tệ Quốc tế xét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2009 và đứng thứ 133
xét theo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người. Đây là nền kinh tế hỗn
hợp, phụ thuộc cao vào xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Việt Nam là quốc gia
thành viên của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế,
Nhóm Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế
châu Á - Thái Bình Dương, ASEAN. Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do
đa phương với các nước ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Việt Nam cũng đã
ký với Nhật Bản một hiệp định đối tác kinh tế song phương.
8
Chương 3
SƠ LƯỢC NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
TRƯỚC NĂM 2000
3.1. Ngoại thương Việt Nam trước CMT8 – 1945
3.1.1.Dưới chế độ phong kiến
* Bối cảnh : Dưới chế độ phong kiến lạc hậu nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế
nông nghiệp tự cấp, tự túc, lại thường xuyên bị xáo trộn bởi nạn ngoại xâm. Sản xuất
hàng hoá giản đơn và một thị trường trong nước chật hẹp, chia cắt là đặc điểm nổi bật
của kinh tế Việt Nam thời kỳ này.
* Tình hình ngoại thương : Ngoại thương dưới thời phong kiến diễn ra giữa một số
nước muốn bán sản phẩm công nghiệp của mình cho Việt Nam và mua hàng thủ công
nghiệp cùng sản vật thiên nhiên.
Quan hệ buôn bán của Việt Nam thời phong kiến chủ yếu với Trung Quốc, Nhật
Bản, Hà Lan, Bồ Đào Nha
Hàng mua vào chia làm ba loại: một để thoả mãn tiêu dùng xa hoa của vua quan
phong kiến như lụa là, gấm vóc, san hô, hổ phách v.v… Một loại khác để “giữ gìn xã
tắc” như vũ khí, và những nguyên liệu làm ra vũ khí (sắt, đồng, diêm trắng, diêm
vàng…). Cuối cùng là hàng tiêu dùng hàng ngày trong gia đình như gương lược, kim
chỉ, thuốc men.
Hàng bán ra gồm nông lâm hải sản quý hiếm do thiên nhiên sẵn có được khai
thác đem bán. Về lâm sản có sa nhân, thảo quả, nấm hương, trầm hương, ngà voi
Hàng thủ công nghiệp có tơ lụa, đồ mĩ nghệ bằng vàng, bạc, những đồ gỗ sơn thiếp
vàng, đồ gốm, đồ sứ
3.1.2.Dưới thời Pháp thuộc
* Bối cảnh: Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam là một “thuộc địa khai thác”
- thuộc địa kém phát triển nhất trong các thuộc địa ở Châu á. Công nghiệp tập trung vào
khai thác tài nguyên thiên nhiên, chủ yếu là ngành khai khoáng (than, kẽm, thiếc, xi
măng…). Công nghiệp chế biến nhỏ bé, tập trung vào những ngành sử dụng nhiều lao
động và nguyên liệu tại chỗ.
* Tình hình ngoại thương: Ngoại thương kém phát triển cả về quy mô, mặt hàng và thị
trường.
9
Xuất khẩu chủ yếu của nước ta trong thời kỳ này là nông sản và khoáng sản với
ba mặt hàng chủ yếu là gạo, cao su và than đá.
Trong 50 năm, từ 1890 đến 1939, ba nước Đông Dương, trong đó chủ yếu là Việt
Nam, xuất khẩu 57.788.000 tấn gạo, trung bình mỗi năm 1,15 triệu tấn (chiếm 20% tổng
sản lượng gạo sản xuất), 397 ngàn tấn cao su (gần như toàn bộ lượng sản xuất), 28 triệu
tấn than (trên 65% sản lượng than sản xuất). Hai mặt hàng gạo và cao su chiếm 70 - 80%
kim ngạch xuất khẩu. Hàng tiểu thủ công chiếm tỷ trọng không đáng kể trong kim ngạch
xuất khẩu.
Nhập khẩu chủ yếu là hàng tiêu dùng và một số nguyên liệu như xăng dầu, bông,
vải. Nhập máy móc thiết bị cũng có, nhưng chiếm tỷ lệ thấp, từ 1,4% (năm 1915) đến
8,8% (năm cao nhất - 1931) trong tổng kim ngạch nhập khẩu.
3.2.Ngoại thương Việt Nam sau CMT 8 1945-1975
* Bối cảnh: Đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh, ngoại thương nhằm mục tiêu vừa
đấu tranh chống âm mưu bao vây và phong tỏa của các đế quốc Pháp vừa duy trì và mở
rộng giao lưu kinh tế với bên ngoài.
Thời kỳ 1955 - 1975 là thời kỳ cải tạo và xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá
theo CNXH ở miền Bắc, vừa phải tiến hành cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.
Từ năm 1955, Chính phủ ta đã ký với Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN
khác các hiệp định về viện trợ hàng hoá và kỹ thuật nhằm giúp nhân dân ta khắc phục
hậu quả của chiến tranh, mở đầu sự hợp tác toàn diện giữa ta với các nước XHCN anh
em.
Đối với các nước ngoài hệ thống XHCN, Chính phủ ta ký Hiệp định thương mại
với Chính phủ Pháp (cuối năm 1955), ấn độ (1956), Inđônêxia (1957) và những năm sau
đó với Cộng hoà ả-Rập thống nhất, Campuchia, Irăc. Song song với việc thiết lập quan
hệ kinh tế thương mại, về mặt Nhà nước ta cũng đặt quan hệ buôn bán với một số thị
trường trong khu vục Châu Á - Thái Bình Dương. Từ năm 1955, các tổ chức kinh tế Việt
Nam đã đặt quan hệ buôn bán với các công ty Nhật Bản, Hồng Kông, Xingapo, Xrilanca,
CHLB Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Anh, Thuỵ Sĩ, Thụy Điển v.v Đến năm 1964, miền Bắc
đã có quan hệ thương mại với 40 nước (năm 1955 mới có 10 nước).
* Tình hình ngoại thương
- Xuất khẩu tăng rất chậm. Trong kim ngạch NK, tỷ trọng viện trợ không hoàn lại
lớn. Ngoại thương chủ yếu với các nước XHCN (chiếm 85-90% tổng kim ngạch buôn
bán với nước ngoài).
- Nhập siêu cực kỳ lớn: Nếu cộng cả giai đoạn từ năm 1958 đến 1975 theo số liệu
của bảng 6.2 thì tổng giá trị xuất khẩu chỉ là 1,129 tỷ Rúp nhưng giá trị nhập khẩu lên
đến 3,693 tỷ Rúp.
10

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét