và có vai trò to lớn trong việc phục vụ phát triển kinh tế, nó thể hiện như
sau :
2.1 - Tín dụng Ngân hàng góp phần thu hút số tiền nhàn rỗi trong xã
hội và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn:
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng là một hoạt động
kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng Thương mại. Để thực hiện quá trình kinh
doanh, Ngân hàng phải có nguồn vốn và trên cơ sở nguồn vốn đó để đáp ứng
nhu cầu vay vốn ngày càng tăng của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
Nói cách khác Ngân hàng phải thực sự trở thành người đi vay để cho
vay. Điều này là một thực tế khách quan.
Mặt khác, trong nền kinh tế thường xuyên xuất hiện những nguồn vốn
bằng tiền tạm thời chưa sử dụng thuộc các thành phần kinh tế. Đồng thời, ở
các thành phần kinh tế khác lại xuất hiện, hiện tượng thiếu vốn tạm thời cần
được giải quyết. Sự tham gia của tín dụng Ngân hàng được coi như một công
cụ để giải quyết mâu thuẫn trên đây về cung - cầu vốn tiền tệ như vậy, vốn
tiền tệ trong nền kinh tế có điều kiện mang đầy đủ nội dung kinh tế của phạm
trù tư bản hoá giá trị thặng dư. Lợi tức đi vay và cho vay của Ngân hàng luôn
luôn là công cụ điều chỉnh quan hệ cung - cầu vốn tín dụng. Gắn liền với nền
kinh tế thị trường là kinh doanh và lợi nhuận. Hoạt động kinh doanh chủ yếu
của Ngân hàng là đi vay để cho vay và như vậy nếu xảy ra điều rủi ro trong
kinh doanh của doanh nghiệp, các thành phần kinh tế sẽ dẫn đến rủi ro của
Ngân hàng, ngân hàng sẽ mất khả năng thanh toán.
Chính vì lẽ đó mà trong nền kinh tế thị trường, mỗi Ngân hàng trong
môi trường cạnh tranh phải dựa vào nghệ thuật quản trị kinh doanh vào việc
đổi mới công nghệ và nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng, thông qua hoạt động
Marketting Ngân hàng và việc nhanh chóng sử dụng thành tựu khoa học kỹ
thuật nhằm thu hút tối đa nguồn vốn tiềm tàng trong nền kinh tế để thực
hiện kinh doanh đáp ứng yêu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế, tạo lợi nhuận
cho Ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh các chính sách tài chính tiền tệ,
sự hoạt động của thị trường tài chính, thị trường vốn, thị trường tiền tệ tín
dụng ngân hàng góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn
5
vốn. Điều đó vừa làm tăng trưởng khả năng tích luỹ tư bản (trong đó phần lợi
nhuận) của các ngân hàng, vừa thúc đẩy quá trình tăng trưởng tín dụng, tăng
trưởng kinh tế làm cho hệ thống Ngân hàng ngày càng lớn mạnh.
2.2 - Tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá
trình mở rộng quan hệ lưu thông hàng hoá quốc tế:
Ngày nay, trong mối quan hệ kinh tế, sự hợp tác bình đẳng đôi bên
cùng có lợi giữa các nước trên thế giới và khu vực đang được phát triển rất đa
dạng cả về nội dung và hình thức, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Đó là nhân
tố hết sức quan trọng tạo điều kiện cho sự phát triển của mỗi nước, nhất là các
nước đang phát triển như Việt Nam.
Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá là
lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế thông dụng. Thông qua quá trình nhận và cho
vay tài trợ xuất nhập khẩu của các nước. Cấp tín dụng cũng như các tổ chức
tín dụng, cùng với sự tham gia trực tiếp vào quan hệ thanh toán quốc tế, tín
dụng ngân hàng đã làm tăng mối quan hệ tốt đẹp giữa các nước, đồng thời
thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy tín dụng sẽ là trợ thủ đắc lực về vốn cho
các nhà đầu tư và kinh doanh xuất khẩu hàng hoá.
Gần đây với chủ trương nền kinh tế nhiều thành phần, với việc thực
hiện hệ thống ngân hàng hai cấp, với môi trường pháp luật ngày càng hoàn
thiện và đi vào đời sống kinh tế - xã hội và nhất là từ khi có luật Ngân hàng ra
đời, vai trò của tín dụng ngân hàng đang phát triển mạnh mẽ hơn nhằm góp
phần tích cực vào mối quan hệ kinh tế giữa nước ta và các nước trên thế giới.
2.3 - Tín dụng Ngân hàng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát
triển sôi động thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:
Trong nền kinh tế hàng hoá, tiền tệ là công cụ kinh tế - xã hội. Trong
lĩnh vực sản xuất và kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, mọi chu kỳ đều bắt đầu
bằng tiền tệ và kết thúc bằng khối lượng tiền tệ lớn hơn, tạo điều kiện để tái
mở rộng hoạt động.
Trong chu trình này, tăng nhanh vòng quay vốn tiền tệ là một trong
các yếu tố quyết định thành công trong sản xuất kinh doanh. Để rút ngắn thời
gian nhằm tăng nhanh vòng quay vốn, mỗi chủ thể kinh doanh phải chủ động
6
tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp như: Ứng dụng những thành tựu khoa
học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, hoàn thiện nghệ thuật quản trị kinh doanh,
tìm kiếm thị trường mới những việc làm này đòi hỏi một khối lượng lớn về
vốn, tín dụng Ngân hàng sẽ là người đáp ứng nhu cầu đó.
Những quan hệ tín dụng nảy sinh việc vay vốn phải được hoàn trả đầy
đủ với một khoản lãi kèm theo (theo lãi suất quy định), trong thời hạn thoả
thuận đã được cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Trường hợp nguyên tắc tín dụng trên đây bị vi phạm tổ chức kinh tế
phải chịu phạt lãi suất quá hạn cao hơn lãi suất thông thường hoặc bị tước
quyền vay vốn hoặc thanh lý tài sản đã thế chấp để trả nợ Ngân hàng.
Khi vay vốn các chủ thể kinh doanh phải tìm mọi biện pháp để tăng
nhanh vòng quay vốn, kinh doanh có lãi, thu hồi vốn để trả nợ và lãi vay
Ngân hàng đúng hạn.
2.4 - Tín dụng Ngân hàng với việc điều chỉnh chiến lược kinh tế, góp
phần chống lạm phát tiền tệ:
Nền kinh tế hàng hoá luôn luôn chuyển động theo hai chiều hướng:
Phát triển theo nhịp độ tăng trưởng hoặc giảm sút theo quy luật lạm phát. Cả
hai trường hợp đó đều có ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng.
Tín dụng ngân hàng tạo nguồn vốn từ huy động các đồng tiền nhàn rỗi
trong nền kinh tế thông qua lãi suất linh hoạt và phù hợp với chỉ số giá cả
đánh giá hàng hoá để thu hút được nguồn vốn đủ lớn cho việc đầu tư vào các
công trình trọng điểm mà chiến lược kinh tế đã đề ra. Nếu không dùng công
cụ tín dụng ngân hàng để huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội dưới
các hình thức thì có lúc Nhà nước phải huy động trái phiếu, kỳ phiếu, thậm trí
phải phát hành giấy bạc.
Hình thức huy động vốn bằng nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng có ý
nghĩa kinh tế to lớn nó không làm tăng thêm khối lượng tiền lưu thông nên
không ảnh hưởng đến lưu thông tiền tệ và giá cả. Ngược lại, nếu Nhà nước
phát hành tiền giấy cho ngân sách dù có đưa vào đầu tư phát triển các chương
trình kinh tế mang tính chiến lược cũng dẫn đến tăng khối lượng tiền tệ trong
lưu thông, gây lên lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả và đời sống xã hội.
7
Trong thời gian qua trọng tâm của công tác tín dụng là tích cực huy
động vốn để cho vay. Theo định hướng của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam là: "Ngân hàng phải đi vay để cho vay". Tập trung vốn vào các
công trình trọng điểm, các ngành sản xuất như: Nông nghiệp, sản xuất hàng
hoá xuất khẩu Ngân hàng cũng như Kho bạc Nhà nước tích cực đa dạng hoá
các hình thức huy động vốn, chính vì vậy đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp
phát triển kinh tế đất nước.
Như vậy tín dụng Ngân hàng không chỉ là đòn bẩy kinh tế mà còn là
công cụ để Nhà nước điều tiết sản xuất, điều chỉnh chiến lược kinh tế, phân
công lao động xã hội, tiết kiệm phát hành tiền vào lưu thông, sử dụng có hiệu
quả vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, góp phần kiềm chế lạm pháp,
ổn định sức mua của đồng tiền. Rõ ràng thông qua vai trò tín dụng với hoạt
động của các Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tín dụng theo cơ chế thị
trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, tín dụng ngân hàng đã thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, góp phần kiềm chế lạm phát.
Thông qua tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị,
các tổ chức kinh tế, các cá nhân có vốn sản xuất kinh doanh thu được hiệu
quả, góp phần phát triển nền kinh tế xã hội.
Đối với Ngân hàng tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản
quan trọng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, nhằm bổ sung vốn cho các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội để sản xuất kinh
doanh. Đây là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của Ngân hàng thương mại.
II. VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN CHO VAY.
Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản trong hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng nhằm bổ sung vốn cho các đơn vị, tổ chức
kinh tế, các doanh nghiệp và cá nhân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Đây là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của Ngân hàng thương mại, nó quyết định
sự sống còn của Ngân hàng thương mại nó quyết định việc mở rộng hay thu
hẹp chức năng trung gian tín dụng.Từ đó quyết định đến phạm vi, quy mô
hoạt động của một ngân hàng thương mại và cũng là nghiệp vụ chiếm tỉ trọng
lớn nhất trong tổng tài sản có của ngân hàng. Đối với nền kinh tế nó thúc đẩy
sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển, tăng tốc độ lưu thông tiền tệ.
8
1.Vai trò của kế toán cho vay
- Kế toán cho vay giữ một vị trí quan trọng trong toàn bộ nghiệp vụ kế
toán của Ngân hàng, vì thế kế toán cho vay tham gia trực tiếp vào quá trình
cho vay vốn, nghiệp vụ cơ bản trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
- Thông qua số liệu của kế toán cho vay, Lãnh đạo ngân hàng biết được
tình hình sử dụng vốn, sự biến động vốn hàng ngày. Từ đó, làm tham mưu
cho lãnh đạo điều hành hoạt động tín dung của Ngân hàng một cách nhịp
nhàng, đồng bộ, kịp thời để có chính sách phù hợp cho việc quản trị kinh
doanh của Ngân hàng như mục tiêu đề ra: an toàn, lợi nhuận, và lành mạnh
trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
- Kế toán cho vay được xác định là một bộ phận kế toán rất quan trọng
bởi kế toán cho vay phục vụ và hỗ trợ đắc lực cho nghiệp vụ tín dụng nó
quyết định sự tồn tại của các Ngân hàng thương mại.
- Đứng ở góc độ kế toán khi thu nợ, thu lãi kế toán cho vay đã giúp cho
Ngân hàng thu nợ gốc, lãi đầy đủ, chính xác, kịp thời.
- Thông qua kế toán cho vay, Ngân hàng cũng như bạn hàng của doanh
nghiệp đánh giá được khả năng hấp thụ của doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu
quả không? Để từ đó đánh giá xu thế vận động của doanh nghiệp trên thị
trường, giúp cho ngân hàng và bạn hàng của các doanh nghiệp có chiến lược
đầu tư phù hợp, có hiệu quả.
- Kế toán cho vay là công cụ để đảm bảo an toàn tài khoản vốn vay của
Ngân hàng, đồng thời hạn chế rủi ro, góp phần ổn định nguồn thu nhập của
Ngân hàng. Thông qua việc ghi chép quá trình cho vay, thu nợ, theo dõi kỳ
hạn nợ hàng ngày, lưu hồ sơ vay vốn thể hiện kế toán cho vay bảo vệ an
toàn một khối lượng tài sản lớn của bản thân Ngân hàng và khách hàng.
2. Nhiệm vụ của kế toán cho vay
- Xác lập chứng từ kế toán cho vay một cách hợp lệ, hợp pháp
nhằm tạo cơ sở hành lang pháp lý giữa Ngân hàng và khách hàng.
- Mở đầy đủ các loại sổ sách (nội ngoại bảng) để hạch toán ghi chép,
phản ánh một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác toàn bộ các khoản cho vay, thu
nợ, theo dõi kỳ hạn nợ để thu nợ và hỗ trợ thu nợ kịp thời các món vay đến
hạn, tính thu lãi đúng lãi suất, đúng thời gian quy định, theo dõi dư nợ thuộc
9
nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng thương mại. Trên cơ sở đó giám sát chặt
chẽ quá trình sử dụng tiền vay và tổ chức quản lý lưu trữ hồ sơ theo qui định
đảm bảo an toàn tài sản của Ngân hàng.
- Kế toán cho vay phối hợp với bộ phận tín dụng quản lý các khoản cho
vay đem lại hiệu quả cao của mỗi món vay cụ thể: kế toán cho vay cung cấp
thông tin chính xác, kịp thời về số liệu những món vay đã quá hạn, sắp đến
hạn để cán bộ tín dụng có kế hoạch đôn đốc thu nợ kịp thời, đồng thời cung
cấp cho Lãnh đạo quản lý, điều hành có hiệu quả.
-Như vậy, kế toán cho vay cùng với các nghiệp vụ kế toán Ngân hàng
khác thông qua các hoạt động của mình giúp cho Ngân hàng vừa thực hiện
được chức năng kinh doanh, vừa cung ứng vốn cho nền kinh tế, với vai trò
quan trọng đó, hệ thống kế toán Ngân hàng nói chung và kế toán cho vay nói
riêng cần phải được hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của
ngành Ngân hàng và nền kinh tế thị trường.
III. CÁC PHƯƠNG THỨC CHO VAY, CHỨNG TỪ TÀI KHOẢN KẾ
TOÁN CHO VAY, THU NỢ
1.Các phương thức cho vay:
Theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước: Có 9 phương thức cho vay.
Trên cơ sở nhu cầu sử dụng của từng khoản vay của khách hàng và
khả năng kiểm tra, giám sát của Ngân hàng, NHNo nơi cho vay thoả thuận với
khách hàng vay về việc lựa chọn phương thức cho vay sau đây:
1.1 -Phương thức cho vay theo từng lần (theo món):
Áp dụng phương thức tín dụng cho vay từng lần, khách hàng phải
lập giấy đề nghị vay vốn theo từng lần, nộp vào Ngân hàng cùng với các
thủ tục cần thiết khác để chứng minh cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh
doanh của khách hàng, cũng như ước tính hiệu quả kinh tế đối với khoản
tín dụng đó.
Trong trường hợp Ngân hàng chấp nhận cho vay, Ngân hàng cùng
khách hàng ký kết hợp đồng tín dụng, thoả thuận với các điều kiện, yếu tố về
số tiền, mục đối tượng, vốn vay, thời hạn trả nợ, lãi suất
10
Trên cơ sở hợp đồng tín dụng đã được ký kết, kế toán cho vay giải
ngân phát tiền vay đồng thời hạch toán:
Nợ: TK cho vay khách hàng.
Có: TK tiền mặt
Có: TK tiền gửi khách hàng
Mỗi khoản vay đều được xác định thời hạn trả nợ cụ thể trên hợp đồng
tín dụng. Vì vậy để theo dõi thời hạn trả nợ, kế toán cho vay phải sắp xếp hồ
sơ, khế ước sao cho khoa học gọn gàng theo kỳ hạn trả nợ của khách hàng.
Để tiện lợi cho việc đôn đốc trả nợ, một khoản nợ có thể chia ra nhiều
kỳ hạn trả nợ khác nhau về nguyên tắc khi đến hạn khách hàng phải có nhiệm
vụ trả nợ cho Ngân hàng đúng hạn.
Khi khách hàng trả nợ hạch toán ghi:
Nợ :TK tiền mặt
Nợ :TK tiền gửi (nếu trả bằng chuyển khoản).
Có :TK cho vay khách hàng.
Nếu đến hạn trả gốc và lãi mà khách hàng không trả được cho Ngân
hàng thì khách hàng phải làm đơn xin điều chỉnh kỳ hạn hoặc xin gia hạn số
tiền gốc và lãi đó.
+ Nếu được Ngân hàng chấp thuận cho gia hạn hoặc điều chỉnh
kỳ hạn nợ thì kế toán cho vay điều chỉnh kỳ hạn nợ trong máy tính và
lưu đơn gia hạn hoặc điều chỉnh của khách hàng vào hồ sơ vay vốn.
+ Nếu không được ngân hàng chấp thuận việc khách hàng xin
điều chỉnh kỳ hạn nợ hoặc gia hạn nợ của khách hàng thì kế toán căn cứ
vào hồ sơ khế ước của khách hàng chuyển nợ quá hạn (sau 10 ngày) đối
với món vay. Kế toán hạch toán ghi:
Nợ: TK nợ quá hạn
Có: TK cho vay trong hạn.
11
Các hồ sơ chuyển sang nợ quá hạn được lưu ở một cặp riêng để làm
căn cứ cho việc đôn đốc thu hồi nợ trong việc phân tích hoạt động tín dụng
cũng như phân tích phòng ngừa rủi ro.
1.2 - Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng (Cho vay bổ xung
vốn lưu động):
Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng là khách hàng cùng với
Ngân hàng thoả thuận một hạn mức tín dụng trong một thời hạn nhất định
hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh
và nhu cầu về vốn của đơn vị.
Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng thường áp dụng cho
những doanh nghiệp có khả năng tài chính lành mạnh, sản xuất, kinh doanh
ổn định và nhu cầu vốn vay, trả thường xuyên, có uy tín trong quan hệ tín
dụng với Ngân hàng. Ngân hàng cùng khách hàng ký hợp đồng tín dụng,
thoả thuận hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định, điều kiện
vay trả, mức lãi suất, cách thức trả nợ cũng như quyền hạn, nghĩa vụ của
mỗi bên làm căn cứ.
Từng lần vay khách hàng không cần phải làm lại các thủ tục mà
chỉ cần, lập một giấy nhận nợ cùng với hợp đồng tín dụng đã lập lần đầu.
Khi phát tiền vay hạch toán ghi:
Nợ: TK cho vay khách hàng.
Có: TK tiền mặt
Có: TK tiền gửi (nếu cho vay bằng chuyển khoản).
Kế toán cho vay phải quản lý chặt chẽ hạn mức tín dụng, đảm bảo
không vượt quá hạn mức tín dụng đã ký kết.
Thu nợ theo thoả thuận trên hợp đồng tín dụng: áp dụng phương thức
này Ngân hàng không xác định được thời hạn trả nợ cụ thể theo từng khoản
vay. Mà thoả thuận một kế hoạch nợ dựa trên cơ sở kỳ luân chuyển vốn của
doanh nghiệp và việc tính toán quản lý thời hạn trả nợ, có thể thông qua kế
hoạch trả nợ từng tháng, từng định kỳ hoặc xác định vòng quay của vốn tín
dụng.
12
Việc trả nợ của khách hàng được thực hiện trong suốt thời hạn giá trị
của hợp đồng tín dụng, có thể trả trực tiếp bằng tiền từ bán hàng hoặc thoả
thuận với Ngân hàng trích từ tài khoản tiền gửi để thu nợ theo định kỳ.
Kế toán hạch toán khi thu nợ ghi
Nợ TK tiền mặt.
Nợ TK tiền gửi (Nếu trả bằng chuyển khoản).
Có TK cho vay khách hàng.
Thu lãi cho vay thường được áp dụng thông qua việc thoả thuận
giữa khách hàng và Ngân hàng để thu theo món, thu theo tích số hàng
tháng hoặc theo định kỳ.
Việc tính thu lãi phải đảm bảo chính xác và phù hợp với mức lãi suất
ghi trên hợp đồng tín dụng và tuỳ theo phương thức cho vay sự thoả thuận
giữa Ngân hàng và khách hàng để thực hiện việc tính các khoản lãi chưa đến
hạn phải thu hoặc thời hạn thoả thuận.
Trong quá trình vay vốn, trả nợ: nếu việc sản xuất, kinh doanh có thay
đổi và doanh nghiệp có nhu cầu, khách hàng phải làm giấy đề nghị bổ xung
hạn mức tín dụng, Ngân hàng xem xét nếu thấy hợp lý thì chấp thuận điều
chỉnh hạn mức tín dụng và cùng khách hàng ký bổ sung hợp đồng tín dụng.
Việc ký kết hợp đồng tín dụng mới được thực hiện trước 10 ngày hạn
mức tín dụng cũ hết hạn khách hàng gửi cho Ngân hàng kế hoạch vay vốn kỳ
tiếp theo.
Căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng và chu kỳ sản xuất, kinh
doanh kế tiếp, Ngân hàng xác định hạn mức tín dụng và thời hạn cho vay mới
1.3. Cho vay theo dự án đầu tư:
• Ngân hàng nông nghiệp cho khách hàng vay vốn để thực hiện các
dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư
phục vụ đời sống.
• Ngân hàng nông nghiệp nơi cho vay cùng khách hàng ký hợp đồng
tín dụng và thoả thuận mức vốn đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của
dự án, phân định các kỳ hạn trả nợ.
13
• Ngân hàng thực hiện giải ngân theo tiến độ thực hiện dự án.
• Mỗi lần rút vốn, khách hàng lập giấy nhận nợ tiền vay trong phạm
vi mức vốn đầu tư đã thoả thuận; kèm theo các chứng từ xin vay phù hợp
với mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng.
• Trường hợp khách hàng đã dùng nguồn vốn huy động tạm thời
khác để chi phí cho dự án duyệt trong thời gian chưa vay được vốn
1.4. Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối
với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng: trong đó,
có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín
dụng khác. Việc cho vay hợp đồng vốn thực hiện theo quy định của Quy
chế này và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc
Ngân hàng ban hành.
1.5. Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng
xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia
ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
1.6. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng
cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức
tín dụng nhất định.Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn
hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng
dự phòng.
1.7. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín
dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn
vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch
vụ và rút tiền mặt tại máy4/14/2003ha minh quan rút tiền tự động hoặc
điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và
sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các
quy định của Chính phủ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử
dụng thẻ tín dụng.
1.8. Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín
dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền
có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét