Kỳ vọng và tâm lý
Kì vọng của thị trường vào tỉ giá tuơng lai cũng là một trong những nhân tố tác động
đến tỉ giá hối đoái. Như các thị trường tài chính khác, thị trường ngoại hối phản ứng lại
với các thông tin trong tương lai có liên quan đến tỉ giá. Ví dụ tin về gia tăng lạm phát
tiềm ẩn ở Mỹ có thể làm những nhà đầu cơ bán USD do dự kiến USD sẽ giảm giá trong
tương lai. Điều này gây áp lực giảm giá trị của USD ngay lập tức.
Nhiều nhà đầu tư định chế (như các ngân hàng thương mại và các công ty bảo hiểm)
thực hiện vị thế tiền tệ dựa trên biến động lãi suất dự kiến ở các nước khác nhau.
Ví dụ: Các nhà đầu tư định chế có thể đầu tư một cách thường xuyên ngân quỹ vào Việt
Nam nếu họ dự kiến lãi suất của Việt Nam tăng, một gia tăng như thế sẽ thu hút vốn
vàoViệt Nam nhiều hơn và tạo áp lực tăng giá đồng Việt Nam. Bằng cách thực hiện vị
thế mua bán tiền dựa vào kì vọng, họ có thể đạt được lợi ích từ sự thay đổi trong giá trị
của đồng Việt Nam vì họ sẽ mua đồng Việt Nam trước khi sự thay đổi xảy ra.
5
Ở đây, dĩ nhiên có thể rủi ro sẽ xảy ra trong những trường hợp mua bán này vì kì vọng
có thể sai, nhưng vấn đề ở đây là kì vọng có thể ảnh hưởng đến tỉ giá hối đoái vì chúng
thúc đẩy các nhà đầu tư định chế thực hiện các vị thế ngoại tệ.
Những giao dịch trong các thị trường ngoại hối làm cho hoặc là dòng thương mại hoặc
là dòng tài chính lưu chuyển dễ dàng hơn. Các giao dịch ngoại hối có liên quan đến
thương mại nhìn chung ít nhạy cảm với các tin tức hơn. Các giao dịch tài chính rất nhạy
cảm với các tin tức bởi lẽ việc quyết định nắm giữ chứng khoán định danh bằng một
loại tiền cụ thể phụ thuộc vào những thay đổi dự kiến trong giá trị của đồng tiền đó. Khi
mà những tin tức ảnh hưởng đến biến động dự kiến của tiền tệ, thì nó sẽ ảnh hưởng đến
cung và cầu tiền.Vì những giao dịch mang tính đầu cơ như thế nên tỉ giá hối đoái có thể
rất bất ổn.
Vì các dấu hiệu về các điều kiện kinh tế tương lai ảnh hưởng đến tỉ giá hối đoái có thể
thay đổi một cách nhanh chóng nên các vị thế đầu cơ tiền tệ điều chỉnh ngay lập tức, tạo
ra những mẫu hình khó xác định trong tỉ giá hối đoái. Không có gì là bất thường khi
USD mạnh ở hôm nay lại yếu đi một cách đáng kể vào hôm sau. Điều này có thể xảy ra
khi các nhà đầu cơ phản ứng quá mức đối với tin tức trong ngày (làm cho đồng đô la
được đánh giá trên giá trị ) và kết quả là một sự sụt giảm vào hôm sau. Phản ứng quá
mức xảy ra bởi lẽ các nhà đầu cơ thường thực hiện các vị thế dựa vào các dấu hiệu của
các hành động tương lai chứ không phải là khẳng định của những hành động tương lai
chứ không phải là khẳng định của những hành động và những dấu hiệu này có thể bị
dẫn dắt sai bởi các lực của thị trường.
Tổng kết các nhân tố tác động đến tỷ giá:
Các nhân tố tác động đến tỷ giá có thể được phân loại thành 2 nhóm: nhóm các yếu tố
liên quan đến thương mại và nhóm các yếu tố liên quan đến tài chính. Sự tương tác giữa
các nhân tố cùng cơ chế tác động của chúng đối với tỷ giá hối đoái được biễu diễn thông
qua sơ đồ sau:
6
7
DIỄN BIẾN TỶ GIÁ NĂM 2008 – QUÝ I/2009
Quý I/2008 (1/1/2008 – 31/3/2008):
Tỷ giá USD/VND giảm, sau đó đảo chiều vào cuối tháng 3/2008
Đầu năm 2008, tỷ giá còn dao động quanh mức 16.000 – 16.200 VND/USD, thì đến
giữa tháng 3/2008, tỷ giá giảm xuống còn 15.400 VND/USD. Sự sụt giảm này bắt
nguồn từ các biện pháp của Chính phủ trong việc kiềm chế lạm phát.
Theo công bố của Tổng cục Thống kê, giá tiêu dùng tháng 1/2008 đã tăng 2,38% so với
tháng 12/2007 và tăng 14,11% so với tháng 1 cùng kỳ năm ngoái. Với mục tiêu kiềm
chế lạm phát, ngày 30/1/2008, NHNN thông báo điều chỉnh các lãi suất: lãi suất cơ bản
từ 8,25%/năm tăng lên 8,75%/năm, tăng 0,5%/năm; lãi suất tái cấp vốn từ 6,5%/năm
tăng lên 7,5%/năm, tăng 1,0%/năm; lãi suất chiết khấu từ 4,5%/năm tăng lên 6,0%/năm,
tăng 1,5%/năm… Ngày 13/2, NHNN thông báo phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà
nước bằng VND vào ngày 17/3 dưới hình thức bắt buộc đối với 41 NHTM với tổng giá
trị tín phiếu phát hành là 20.300 tỷ đồng, kỳ hạn là 364 ngày, lãi suất là 7,80%/năm.
Đồng thời trên thị trường thế giới USD vẫn tiếp tục suy giảm, Cục dự trữ liên bang Mỹ
(Fed) tiếp tục cắt giảm lãi suất cơ bản.
8
Diễn biến tỷ giá USD/VND năm 2008 – Quý I/2009
Hệ quả tức thời của các tác động trên là dòng tiền VND bị chặn lại, gây ra hiện tượng
khan hiếm tiền mặt, thừa USD giữa các NHTM. Vào thời điểm đó, USD/VND xuống
rất thấp, tỷ giá của các NHTM luôn ở mức dưới tỷ giá liên ngân hàng. Người dân không
còn giữ USD như trước mà chuyển sang mua vàng hoặc giữ tiền đồng để gửi tiết kiệm
hưởng lãi suất cao. Những nhà đầu tư nước ngoài bán USD lấy VND rồi đem gửi tiết
kiệm sẽ thu lại được lợi nhuận hơn là gửi tiết kiệm ở trong nước. Nhà đầu tư càng được
lợi cao hơn khi lãi suất ở VN đang tăng chóng mặt còn tỉ giá VND/USD thì giảm mạnh.
Kiều bào nước ngoài cũng gửi tiền về cho người thân ở Việt Nam để hưởng lãi suất.
Các NHTM một mặt phải chạy đua lãi suất với nhau, diễn ra một cuộc cạnh tranh gây
gắt nhằm thu hút lượng VND để đủ tiền mua tín phiếu bắt buộc của NHNN, mặt khác
phải cầu cứu NHNN mua bớt ngoại tệ để khai thông dòng chảy cho đồng USD, giải
ngân để lấy tiền đồng hỗ trợ thanh khoản khi cung vốn cạn dần. Các doanh nghiệp nhập
khẩu không thể bán USD vì lỗ nặng Trước tình hình này, để giữ cho hệ thống ngân
hàng không rơi vào tình trạng mất thanh khoản, nhưng vẫn theo chủ trương tăng giá
VND kiềm chế lạm phát; ngày 10/3/2008, NHNN đã quyết định mở rộng biên độ mua,
bán ngoại tệ của các NHTM so với tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân
hàng từ ±0,75% lên ±1%, tỷ giá liên ngân hàng được giảm dần. Ngoài ra, NHNN cũng
tung ra thị trường 33.000 tỷ đồng vay ngắn hạn; gấp 1,5 lần số lượng tiền định rút về
qua tín phiếu bắt buộc, làm cho lạm phát tăng nhanh hơn vào những tháng sau ảnh
hưởng đến tỷ giá.
Tuy nhiên, vào những ngày cuối tháng 3/2008, thị trường đảo chiều, VND không thể
tăng giá. Trong 1 tuần tính từ ngày 21/3 đến 28/3 tỷ giá đã tăng 280-298 VND/USD,
tăng kịch trần +1% so với quy định của NHNN. Nguyên nhân là do CPI tháng 3 tiếp tục
ở mức cao 2,99%, đưa chỉ số giá tiêu dùng 3 tháng đầu năm lên 9,19%, bên cạnh đó
NHNN áp đặt trần lãi suất huy động không vượt quá 12%/năm nhằm chấp dứt tình trạng
các NHTM đua lãi suất, ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi giữ tiền đồng, lạm phát
cao, lãi suất thực âm, ai cũng muốn giữ tiền để mua sắm hàng hóa,… vì sợ rằng giá của
hàng hóa sẽ tiếp tục tăng. Nhập siêu quý I/2008 tới 7,3 tỷ USD do một phần nhiều nhà
đầu tư chứng khoán chuyển vốn sang vàng, khiến cung tăng mạnh và doanh nghiệp
vàng bạc đang phải huy động nhiều USD để nhập khẩu vàng. Theo ước tính Việt Nam
nhập trên 30 tấn vàng, gấp hơn 3 lần so với cùng kỳ hằng năm, nhu cầu ngoại tệ đối với
nhập khẩu tăng khá mạnh làm cho nguồn cung USD bị sức ép lớn. Đồng thời với tác
động của việc giá USD liên tục tăng làm cho những DN khác dù chưa đến hạn thanh
toán cũng yêu cầu mua USD để tránh rủi ro làm cho cầu USD tăng mạnh hơn.
9
Quý II/2008 (1/4/2008 – 30/6/2008)
Tỷ giá USD/VND tăng mạnh.
Trong tháng 4/2008, tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục tăng lên, để ổn định tỷ giá, NHNN
phải bán ngoại tệ can thiệp thị trường. Từ đầu tháng 5 có sự xáo động mạnh trong cung-
cầu ngoại tệ trên thị trường, sau kỳ nghỉ lễ, giá USD bán ra của các NH bất ngờ tăng
mạnh thêm 20 VND, đợt biến động mạnh thứ 2 sau đợt biến động mạnh từ 20 đến 31/3.
Tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục tăng khiến lãi suất USD bước vào cuộc đua mới. Ở hầu
hết các NHTM, giá USD tăng kịch trần, hết biên độ cho phép, trên thị trường tự do, giá
bán dao động xung quanh 17.100 – 17.500 VND/USD. Tính toán của Tổng cục Thống
kê công bố cho thấy, trong tháng 5, giá USD tính theo VND đã tăng mạnh với 1,02% so
với tháng trước đó. Đặc biệt trung tuần tháng 6/2008, cơn sốt USD bùng phát, có thời
điểm giá chợ đen lên tới 19.000-19.800 VND/USD.
Nguyên nhân là do tâm lý lo sợ sự mất giá của VND. Mặc dù NHNN đã ban hành cơ
chế mới về điều hành lãi suất, nâng lãi suất cơ bản từ 8,75%/năm lên 12%/năm vào
tháng 5, rồi sau đó tăng lên 14%/năm vào tháng 6, nhưng việc áp dụng trần lãi suất làm
cho các NHTM không thể tăng lãi suất lên, lãi suất thực âm, lượng tiền huy động giảm
sút như vậy làm trậm trọng hơn vấn đề lạm phát vì không thể hút tiền từ trong lưu thông
về vì trong tình hình lạm phát cao. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2008 so với tháng
12/2007 đã tăng lên hai chữ số là 11,6%; gần bằng tốc độ của cả năm 2007 (12,63%).
Lạm phát tháng 5 tiếp tục tăng 3,91%, cao nhất kể từ đầu năm đến nay, đẩy chỉ số tiêu
dùng trong 5 tháng đầu năm lên đến 15,96%. Với tốc độ tăng giá tiêu dùng đã lên đến
15,96% trong 5 tháng đầu năm, tức là tăng trên 3%/tháng, trong khi lãi suất tiết kiệm chỉ
10
Tỷ giá USD/VND tháng 3/2008
15924
15912
15867
15860
15847
15830
15880
16100
16120
15650
15700
15750
15800
15850
15900
15950
16000
16050
16100
16150
Ngày
4/3
Ngày
7/3
Ngày
10/3
Ngày
14/3
Ngày
19/3
Ngày
21/3
Ngày
25/3
Ngày
27/3
Ngày
28/3
Diễn biến giá USD bán ra của Ngân hàng Ngoại thương tháng 3/2008
(Đơn vị: VND)
Chỉ số giá tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2008
111.41
152.88
95
105
115
125
135
145
155
165
12/07 01/08 02/08 03/08 04/08 05/08
Chỉ số CPI
Chỉ số giá vàng
Chỉ số giá đô la
Chỉ số giá lương thực
Chỉ số giá thực phẩm
khoảng trên dưới 1,2%/tháng, nghĩa là tốc độ tăng giá tiêu dùng cao gấp 2,5 lần lãi suất
tiết kiệm dẫn đến lãi suất tiền gửi thực bị âm. Tâm lý lo sợ VND ngày càng mất giá,
người dân không muốn gửi tiền vào ngân hàng mà dùng đồng tiền để mua sắm, dự trữ,
… còn DN thì bị khóa van tín dụng, do lãi suất huy động cao, kéo theo lãi suất cho vay
cao đến chóng mặt 21%/năm, nên không còn tiền phải rút tiền gửi về để mua hàng hóa,
dịch vụ, và trả nợ.
Tổng kim ngạch nhập khẩu tương ứng cũng đạt 37,8 tỷ USD trong tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu 61,2 tỷ đô la và đã tạo ra một khoản thâm hụt cán cân thương mại 14,4 tỷ
trong năm tháng đầu năm 2008. Lượng nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu đều tăng về
lượng so với cùng kỳ năm 2007 như ôtô tăng 6 lần, linh kiện ôtô tăng hơn 3 lần, thép
các loại tăng gần 2 lần, máy tính và linh kiện tăng 43,1%, máy móc thiết bị tăng 42,5%,
phân bón các loại tăng 39,5%. Nước ta cũng đã nhập hơn 1 tỷ USD vàng để đáp ứng
nhu cầu trong nước… Trước tình hình đó, NHNN đã chủ động điều chỉnh tỷ giá hối
đoái để hạn chế tình trạng thâm hụt cán cân thương mại, thông qua tác động làm giảm
giá trị đồng nội tệ. USD giảm giá đáng kể từ tháng 09/2007-06/2008 do nền kinh tế Mỹ
suy thoái buộc FED cắt giảm lãi suất USD. Nhưng lần cắt giảm lãi suất vào tháng 5
xuống còn 2%, FED cũng đã tăng tính thanh khoản trên thị trường khi mở kênh vay vốn
cho các ngân hàng (NH) thương mại và bơm tiền vào hệ thống NH, đồng thời tiến hành
xử lý các khoản nợ xấu làm tăng niềm tin của các nhà đầu tư vào thị trường tài chính
Mỹ. Để đảm bảo xuất khẩu, NHNN đã mua đô la vào đẩy giá USD tăng lên theo tỷ giá
mục tiêu.
Quý III/2008 (1/7/2008 – 30/9/2008)
11
Tỷ giá USD/VND ổn định và có xu hướng tăng
Trong tháng 7/2008 chênh lệch giữa thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và ngoại tệ trên
thị trường tự do không quá cách biệt, giá USD trên thị trường tự do đã lùi xuống dưới
17.000 đồng… Nguyên nhân bắt nguồn từ việc NHNN đã công bố dự trữ ngoại tệ là
20,7 tỷ USD, cộng cả ngoại tệ do Bộ Tài chính quản lý và khoản dự trữ điều hòa thị
trường hối đoái của NHNN thì cao hơn con số đã công bố, thanh khoản của Việt Nam
tương đối ổn định giúp cải thiện tâm lý lo lắng nơi người dân, qua đó giảm bớt tình
trạng găm giữ, đầu cơ ngoại tệ dẫn đến tỷ giá ổn định trong thời gian này. Mặt khác,
lạm phát tháng 7/2008 đã tăng chậm lại ở mức tăng 1,13% so với tháng trước, lãi suất
ổn định. Mức nhập siêu trong tháng 7 ước đạt 0,8 tỷ USD. Qua tháng 8/2008, cung cầu
ngoại tệ tiếp tục ổn định.
Trong tháng 8/2008, tỷ giá bình quân liên ngân hàng có diễn biến nhích lên dần theo
từng tuần, thực hiện chuỗi tăng tới 7 đồng so với đầu tháng. Cụ thể tỷ giá bình quân liên
ngân hàng từ 16.489 VND/USD lên 16.493 VND/USD và dừng ở mức 16.496
VND/USD trong hai tuần cuối tháng 8. Theo đó, tỷ giá trên thị trường tự do ổn định
quanh mức 16.580-16.610 VND/USD (cao hơn 10 đồng so với tỷ giá thông báo đầu
tháng là 16.550-16.600 VND/USD) nhưng thấp hơn 20 đồng so với mức ổn định trong
hai tuần giữa tháng là 16.580-16.630 VND/USD.
Tỷ giá USD/VND trong tháng 9/2008 không có sự biến động nhiều, chỉ có gia tăng
mạnh từ 16.620 lên 16.740 (ngày 15/9 đến ngày 19/9), sau đó giảm xuống chỉ còn
12
Tỷ giá USD/VND tháng 9/2008
16650
16620
16610
16620
16630
16760
16630
16610
16500
16550
16600
16650
16700
16750
16800
Ngày
3/9
Ngày
9/9
Ngày
12/9
Ngày
15/9
Ngày
17/9
Ngày
19/9
Ngày
24/9
Ngày
29/9
Diễn biến giá USD bán ra của Ngân hàng Ngoại thương tháng 9/2008
(Đơn vị: VND)
16.630 VND/USD trong ngày 24/9. Nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính tại Mỹ: ngày 15-9 tập đoàn tài chính Lehman Brothers lớn thứ tư
nước Mỹ, có thời gian hoạt động 158 năm nay, đã chính thức tuyên bố phá sản. Tối
16-9 khi FED được sự ủng hộ của Bộ Tài chính nước này đã đồng ý để Ngân hàng New
York chi 85 tỷ USD cứu AIG, một trong những tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới có
giá trị tài sản khoảng một nghìn tỷ USD và có 116 nghìn nhân viên tại hơn 100 quốc gia
vì theo các nhà phân tích, sự sụp đổ của AIG sẽ có ảnh hưởng lớn hơn rất nhiều đối với
thị trường tài chính so với sự sụp đổ của Lehman Brothers. Thị trường thế giới có những
tín hiệu khả quan về các biện pháp giải cứu ngành tài chính Mỹ trị giá 700 tỷ USD.
Quý IV/2008 (1/10/2008 – 31/12/2008)
Từ cuối tháng 9 cho đến 19/10 tỷ giá tiếp tục được ổn định quanh mốc 16.610
VND/USD. Tuy nhiên, thời gian từ 15/9 đến 24/10 ở cả hai sàn HaSTC và HOSE, nhà
đầu nước ngoài đã bán ròng hơn 12.500 tỷ đồng (750 triệu USD) giá trị cổ phiếu và trái
phiếu. Một phần trong số này được dùng để mua USD đã gây sức ép lên tỷ giá trong
thời gian qua.
Ng
à y
22/10 tỷ giá USD/VND ở các NHTM bất ngờ tăng vọt tới mốc 16.800 VND/USD, trong
khi tỷ giá bình quân liên ngân hàng vẫn ổn định, thậm chí giảm nhẹ. Ngày 23/10, giá
bán ra đồng USD của các ngân hàng thương mại đồng loạt niêm yết ở mức 16.850
VND, sát trần biên độ +/-2% theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, một phần là do cũng
trong ngày này NHNN đã quyết định giảm lãi suất cơ bản từ 14% xuống 13%. Sau đó
giá USD bán ra của các NHTM cũng giảm nhẹ, ngày 27/10 xuống còn 16.847
13
Giá trị bán ròng của nhà đầu tư nước ngoài
tại HaSTC từ 15/9 - 24/10
(nguồn dữ liệu: UBCKNN)
VND/USD và đang có xu hướng ổn định. Giá USD trên thị trường tự do cũng đã xuống
dưới mốc 17.000 VND. Còn theo diễn biến trên thị trường thế giới, phần lớn tất cả các
ngoại tệ mạnh trên thế giới đều mất giá so với USD nhất là sau khi Chính phủ Mỹ can
thiệp vào thị trường tài chính, ngăn chặn khủng hoảng khiến USD lên giá.
Rõ ràng là tình trạng suy thoái kinh tế do khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra sẽ kéo
dài và sâu sắc hơn so với những dự đoán trước đây. Olivier Blanchard, nhà kinh tế
trưởng của IMF cho rằng cuộc khủng hoảng này là tồi tệ nhất trong vòng 60 năm. Việc
Citigroup rơi vào bờ vực của sự sụp đổ và sau đó được chính phủ Mỹ giải cứu là một lời
nhắc nhở rằng thị trường tín dụng vẫn còn ốm yếu.
Cuộc khủng hoảng toàn cầu đã và sẽ tiếp tục tác động đến nền kinh tế Việt Nam trong
ít nhất năm lĩnh vực. Thứ nhất, nhu cầu đối với hàng xuất khẩu sẽ suy giảm: kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam giảm liên tục từ tháng 8/2008 chủ yếu là dầu thô và các hàng
hoá xuất khẩu cơ bản:
Thứ hai, đầu tư nước ngoài sẽ giảm trong ngắn và trung hạn vì các nhà đầu tư gặp khó
khăn về nguồn tài trợ và phải đánh giá lại triển vọng lợi nhuận năm 2009-2010. Tạp chí
Financial Times hồi đầu tháng 12/2008 đưa tin về dự báo cho rằng dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu sẽ giảm 15% trong năm 2009. FDI đầu tư vào Việt Nam
cũng nằm trong số đó, vốn FDI đăng ký trong năm 2008 của Việt Nam là hơn 60 tỷ
USD nhưng chỉ một phần nhỏ trong số này thực sự được giải ngân.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét